Huyền Trân công chúa đã hy sinh mối tình thắm đẹp vì sứ mệnh lịch sử để ta nghe ai oán lời thương tiếc của dân gian:
Tiếc thay cây quế giữa rừng, Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.
Hay:
Tiếc thay hạt gạo trắng ngần, Đã vò nước đục lại vần lửa rơm.
Năm 1802, vua Gia Long thống nhất sơn hà, dời kinh đô vào Nam và khởi sự xây kinh thành Huế năm 1804. Vua Gia Long vẽ kiểu và Nguyễn Yên xây cất. Năm 1832 thành Huế hoàn tất . Thủ đô nhà Nguyễn trước kia có tên là Phú Xuân và được chuyển đổi là Huế. Qua bao thăng trầm lịch sử, Huế vẫn giữ nguyên ngôi vị của mình như một chốn đế đô thanh lịch .Khi vua Minh Mạng lên ngôi, người ta còn gọi Huế và miền phụ cận là Thừa Thiên. Nhắc đến Thừa Thiên lắm lúc là muốn nói đến Huế “Đất Thừa Thiên trai hiền gái lịch”.
Huế là cả một cấu trúc nên thơ của thiên nhiên đất trời.
Đường vô xứ Huế quanh quanh, Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Ngày xưa muốn đến Huế, việc di chuyển hiểm trở, khó khăn. Dùng đường thủy người ta sợ Phá Tam Giang, do 3 con sông hợp lại, sông Ô Lâu, sông Bồ và sông Hương. Phá Tam giang rất sâu, nguy hiểm cho tàu bè qua lại. Ngoài Phá Tam Giang, người ta cũng còn bị Truông Nhà Hồ đe dọa. Truông này chạy qua làng Hồ Xá, dài và vắng vẻ làm cho người đến Huế vô cùng e ngại:
Thương em, anh cũng muốn vô, Sợ Truông Nhà Hồ, sợ Phá Tam Giang
Sau này lâu dần, đất phù sa bồi lên từ ba con song làm Phá Tam Giang cạn dần, không còn nước sâu sóng dữ như ngày xưa nữa. Truông nhà Hồ cũng được một vị nội tán, ông Nguyễn khoa Đăng lãnh nhiệm vụ dẹp yên. Vùng Hồ Xá không còn trộm cướp như xưa. Năm 1722, vùng này được ổn định, việc di chuyển dễ dàng:
Phá Tam Giang ngày rày đã cạn, Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm.
Truông nhà Hồ, nhắc ta một sinh hoạt khó khăn của cư dân ở đây. Việc vận chuyển khó khăn, thổ sản vùng Hồ Xá chỉ tiêu thụ trong vùng, không đưa được ra ngoài, không phân phối buôn bán dù chỉ các vùng lân cận. Vật sản dư dã. Thơm và mít làng trồng nhiều mà không bán được nên mua một trái mít được thêm một trái thơm. Thơm chỉ là vật “bù” vào cho món hàng được mua nên thường thiếu “chất lượng “, còn non, đưọc hái sớm, chỉ giúp một chút vị ngọt cho hũ mắm vốn rất mặn.
Đưa em cho tới nhà Hồ, Em mua trái mít, em bồ trái thơm, Trái thơm đụng trái thơm non, Bỏ vô làm mắm ăn chon như dừa.
Câu hò ru em ngày nào của Huế giới thiệu được một khía cạnh sinh hoạt của những vùng đất nước ngày xưa . Đâu có phải chỉ có ngày nay trên xứ người, mới có “ buy one get one free “.
Huế, thủ đô của Nhà Nguyễn nằm ngay giữa giải đất hẹp của bản đồ Việt Nam. Từ Bắc vào Huế hiểm trở như vậy mà từ Nam ra Huế cũng ngại ngùng không kém. Phải vượt đèo Hải Vân, cao gần 500 mét, gây rất nhiều tai nạn cho người di chuyển thời ấy. Dèo khúc khuỷu quanh co nên heỏ lánh vắng vẻ, người đi bộ lo lắng, bất an. Nếu dùng thuyền bè từ cửa Tư Hiền để đến Huế thì lại sợ Hang Dơi và song dữ:
Đi bộ thì khiếp Hải Vân, Đi thuyền thì sợ sóng Thần hang Dơi.
Ngày nay việc vận chuyển tiến bộ nhiều, những đe dọa hành trình từ Bắc vào Nam không còn nữa. Những người yêu Huế, muốn thăm Huế, đến với Huế nhiều hơn, dễ dàng thưởng thức những nét hữu tình của Huế. Huế có những phong cảnh thiên nhiên quyền rũ mắt nhìn. Từ dãy Trường Sơn trùng điệp hùng vĩ bao quanh. Sương mù mờ ảo bốn mùa. Nhắc đến Huế người ta nghĩ ngay đến sông Hương núi Ngự. Hai thắng cảnh để lại trong lòng người Huế cũng như du khách đến Huế, cảm tình lai láng vì nét thơ mộng hữu tình khó quên.
Núi Ngự Bình được liệt vào một trong 20 thắng cảnh của Huế. Tên núi nói lên sự quan trọng của vị trí và bình thế của núi đối với kinh thành Huế. Núi như là bức bình phong án ngữ phía Nam kinh thành Huế, tạo cho nơi vua ở sự che chở an lành. Núi cao chừng 100 mét, cách thành phố Huế khoảng 3 cây số. Núi với nhiều đồi thông im mát, phong cảnh hữu tình. Nam thanh, nữ tú của Huế thường lấy nơi ấy làm nơi thưởng ngoạn, hẹn hò. Tiếng thông rì rào của Ngự Bình là tiếng reo mà hầu như người Huế nào cũng nhớ “thông reo đỉnh Ngự “. Hình ảnh Ngự Bình thân quen đến nổi người Huế nhắc đến núi như một lien hệ đến người yêu:
Núi cao chi lắm núi ơi, Núi che mặt trời không thấy người thương.
Và người Huế, ai cũng biết:
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo
Miền núi ấy gây cho người Huế một cảm tình mang mang, nhẹ nhàng mà sâu thăm thẳm Mối tình chung có lúc lại như riêng cảm cho mình:
Biết đâu là cầu Ô Thước Mênh mông nguyện ước dưới nước trên trời, Đêm khuya ngất tạnh mù khơi, Khúc sông quạnh vắng có người sầu riêng.
Cảnh sắc thiên nhiên của Huế vừa thơ mộng vừa hùng vĩ. Từ lăng Tự Đức đến đồi Vọng Cảnh, thông được trồng san sát xanh tươi một vùng. Đêm về ánh trăng chiếu bóng tùng trên mặt nước sông Hương im phăng phắc:
Bốn bề núi phủ mây phong, Mảnh trăng thiên cổ, bóng tùng Vạn Niên.
Rừng Vạn Niên nổi tiếng với trăng ‘thiên cổ’, cấu trúc từ ngữ của ca dao ở đây thật tuyệt vời.
Sông Hương chảy qua kinh thành Huế, phát nguồn từ Trường Sơn, gồm có hai nguồn từ phía Nam huyện Hương Trà. Nguồn Tả Trạch chảy từ Ba Khê quanh về hướng Tây Bắc rồi lại chuyển dòng qua hướng Đông. Nước chảy mạnh qua nhiều dòng thác về đến ngã ba sông của bến Tuần. Nguồn hữu trạch cũng chảy về hướng Đông rồi Đông Nam đến ngã ba Tuần. Ở đây, hai nguồn tả, hữu trạch nhập lại thành sông Hương chảy về hướng đông, qua đồi Vọng Cảnh và núi Ngọc Trãn rồi chảy vòng quanh qua kinh thành, từ Cồn Giả Viên đến Cồn Hến. Tại đây sông Hương chia làm hai nhánh. Một nhánh xuôi về Vỹ Dạ. Một về Gia Hội. Sông lại xuôi dòng ngang qua Bao Vinh rồi thẳng ra biển đông bằng phá Tam Giang và cửa Thuận An.
Từ thượng nguồn, xuôi mái trên dòng Hương êm ả, con thuyền đang giới thiệu xứ Huế:
Nước đầu cầu khúc sâu khúc cạn, Chèo qua Ngọc Trản đến Vạn Kim Long Sương sa, gió thổi lạnh lùng, Sóng xao trăng lặn, chạnh lòng nhớ thương.
Núi Ngọc Trản (chén ngọc) có khúc sông vờn quanh rất nên thơ, nơi có Điện Hòn Chén đối diện với Đồi Vọng Cảnh. Thuyền qua khỏi Điện Hòn Chén và xuôi đến Vạn Kim Long (nơi tập trung nhiều thuyền đò sau khi xuôi dòng sông Hương đã tựu về đây như một bến đổ sầm uất và rộng lớn). Kim Long, tên một làng nhỏ nằm ven sông Hương nơi có chùa Thiên Mụ. Ngôi làng nổi tiếng với nhiều thiếu nữ nhan sắc của Huế. Giai thoại cho rằng nơi đây có thời là kinh đô Huế (1636 - 1687) trước khi dời về Phú Xuân:
Kim Long có gái mỹ miều, Trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi.
Thuyền xuôi dòng Kim Long, văng vẳng giọng hò cô gái bên sông nghe như lời tâm tình dễ thương:
Tình về Đại Lược, duyên ngược Kim Long, Đến đây là chỗ rẽ của lòng, Gặp nhau còn biết bên song bến nào?
Đại Lược, tên một làng nhỏ ở huyện Phong Điền, giao thông với Huế bằng đường thủy. Những câu hò trao đổi tình cảm, đánh dấu một mối tình bắt đầu nhưng rồi lại phải chia tay vì dòng sông đã đến khúc rẽ, để lòng người ngậm ngùi biết đến bao giờ trên bến sông nào sẽ tái ngộ?
Từ Kim Long về Huế, đò dọc đưa ta ngang qua Đông Ba, Đập Đá và thẳng về Vỹ Dạ. Đến ngã ba làng Sình, sông chia làm hai tuyến: một về Thuận An; một theo sông Bồ về các thôn miệt Bắc:
Thuyền về Đông Ba, thuyền qua Đập Đá, Thuyền về Vỹ Dạ đến ngã ba Sình, Là đà sóng ngã trăng chênh, Giọng hò xa vọng nhắn tình nước non.
Nói đến Huế, sau Kim Long, người ta thường nhắc đến Vỹ Dạ như một nơi phong cảnh hữu tình với những bờ tre la đà soi bóng trên dòng Hương Giang. Nghe kể Vỹ Dạ nguyên tên là Vỹ Dã, cánh đồng trồng toàn cây lau, hoang dã. Ngày nay thôn Vỹ là nơi sầm uất, nhà cửa san sát, khang trang rộng rãi với hàng cau vút cao, với vườn nhà xanh ngát một mầu thấp