Hôm thứ Hai, tôi có nói chuyện với một người bạn, về mặt kỹ thuật là gọi điện công việc, nhưng chúng tôi dành nhiều thời gian nói về câu cá hơn là công việc. Anh ấy chia sẻ thông tin cập nhật về chuyến câu cá cuối tuần của mình, khiến tôi phải liếc nhìn lịch trình buổi chiều. Tôi thấy có một khoảng trống khoảng 50 phút giữa cuộc họp Zoom gần nhất và thời điểm mở cửa nơi trú ẩn.
"Chiều nay tôi sẽ đi," tôi tuyên bố, ngay lập tức tính toán xem mình sẽ đi đâu và thực tế tôi đã có bao nhiêu thời gian câu cá.
Lúc 4:05 chiều, tôi chạy ra khỏi cửa, vớ lấy một cần câu nước ngọt, hai mồi câu, kìm và nhảy lên xe Jeep. Tôi mỉm cười. Nụ cười rạng rỡ nhất trong ngày.
Khi tôi đến ao, tôi nhìn ra mặt nước và hít thở thật sâu. Cuộc sống thật tuyệt vời. tốt!
Cú ném đầu tiên của tôi như một ly nước mát lạnh giữa ngày 90°C. Một đàn vịt bay lên, lông vũ tung bay trên mặt nước phẳng lặng. Ba con thiên nga trôi nổi ngoài tầm ném của tôi, nhưng vẫn nằm trong tầm ngắm của tôi. Vẻ đẹp và sự duyên dáng của chúng càng làm tăng thêm sự hoàn hảo của khoảnh khắc ấy.
Tôi rơi vào nhịp điệu vô thức của việc quăng, vớt, hy vọng, quăng, vớt, hy vọng, và lặp lại cho đến khi... cá hoặc đầy. Trái tim đầy ắp, đúng vậy.
Tôi thường nói rằng ngư dân là những người hy vọng nhất mà tôi biết. Chúng tôi quăng cần 100, 200, 500, thậm chí 1,000 lần mới bắt được một con cá lớn, hay thậm chí là bất kỳ con cá nào. Chúng tôi quăng cần với hy vọng sẽ bắt được gì đó.
Chúng tôi tung xúc xắc khi 100 lần tung xúc xắc đầu tiên không trúng đích. Chúng tôi tung xúc xắc vì mỗi lần tung xúc xắc đều có cơ hội. Cơ hội là lý do đủ để tung xúc xắc. Cơ hội là lý do để hy vọng.
Chúng ta quăng cần khi cuộc sống vui vẻ, vô ưu, và quăng cần khi cuộc sống khó khăn, với những gánh nặng. Tôi đã thấy những người đánh cá lên bờ, mang theo những lo toan thường nhật, và tôi đã chứng kiến những nỗi lo ấy tan biến như thể mỗi lần quăng cần lại ném thêm những mảnh nhỏ lo toan vào không khí để rồi tan biến theo làn gió.
Tôi đã có vinh dự được dẫn dắt các nhóm học sinh, nhóm thanh thiếu niên nhà thờ và các lớp học karate. Bằng cách nào đó, mọi thứ đều có thể liên quan đến câu cá, và tôi luôn "hỏi" bọn trẻ: "Khi nào chúng ta đi câu cá?" Và chúng đã học được: "Chúng ta đi câu cá vào những ngày đẹp trời. Chúng ta đi câu cá vào những ngày tồi tệ. Chúng ta đi câu cá khi chúng ta vui vẻ. Chúng ta đi câu cá khi chúng ta buồn bã." Tôi khá chắc chắn rằng, nếu chúng làm theo phương châm đó, tất cả chúng sẽ lớn lên trở thành những người cân bằng và hạnh phúc.
Một trong những câu Kinh Thánh tôi yêu thích nhất là 1 Phi-e-rơ 5:7, “Hãy trao gánh nặng cho Chúa, vì Ngài chăm sóc anh em.”
Hôm thứ Hai, tôi đã làm đúng như vậy. Những lần quăng mồi đầu tiên của tôi đều xuất phát từ những suy nghĩ chủ đích, tôi đặt những lo lắng đó vào lúc quăng mồi. Chỉ trong vài phút, việc thu dây dễ dàng, không vướng cá, đã đưa tôi vào trạng thái thiền định. Trời đã chuyển sang mây, nên tôi không mong đợi một cú đớp mồi lúc hoàng hôn, nhưng trời ơi, sau 15 phút, tôi đã mỉm cười với những chú thiên nga, cảm ơn những ngọn cỏ cao vì sự đồng hành dịu dàng của chúng, và một lần nữa lạc quan rằng sẽ có một nơi trú ẩn lâu dài trên đảo cho những người đang cần.
Những con thiên nga tiến lại gần hơn, không hề nao núng trước sự hiện diện của tôi. Chúng dường như di chuyển một cách nhẹ nhàng, và tôi nghĩ đến Abe Pieciak. Abe, ngoài việc là một nghệ sĩ tài năng đáng kinh ngạc, còn là một người câu cá ruồi siêu hạng. Tôi đã từng đứng trên một cầu tàu gần Abe và kinh ngạc chứng kiến anh ấy quăng cần câu ruồi với những động tác dường như rất nhẹ nhàng. Thật lòng mà nói, đó là một bài thơ chuyển động. Có thể tôi đã ghen tị, nhưng hơn thế nữa, tôi đã được truyền cảm hứng. Tôi muốn vung một sợi dây câu qua đầu, qua lại, trôi bồng bềnh với sức mạnh, rồi thả dài nó ra như một món quà tặng biển cả, giống như Abe đã làm.
Sau một hoặc hai năm theo dõi Abe và những người câu cá bằng ruồi khác, tôi bắt đầu luyện tập cách quăng dây. Nó rất khác so với kiểu câu spin road. Việc nâng dây, di chuyển từ vị trí 10 giờ đến 2 giờ và ngược lại. Việc thả dây, ngắn hơn nhiều so với kiểu câu spin road, vẫn khiến tôi bối rối. Tôi vẫn chưa tìm được nhịp điệu. Tôi muốn đấm mạnh vào điểm cuối cùng, đẩy ruồi ra xa hơn, bằng lực mạnh, như người ta dùng mồi giả. Nhưng đó không phải là cách câu cá bằng ruồi. Khi thời tiết ấm áp trở lại, tôi sẽ dành hàng giờ luyện tập cách quăng dây, đơn giản chỉ vì tình yêu với cây mồi.
Tôi đã xem "Câu cá hồi ở Yemen" nhiều đến mức không đếm xuể. Tôi không hứng thú với Brad Pitt, nhưng những cảnh câu cá bằng ruồi trong "Dòng sông chảy qua" khiến tôi mê mẩn, vừa ngắm nhìn những sợi dây câu với vẻ thích thú, vừa quan sát để nghiên cứu chuyển động của cơ thể và chuyển động của sợi dây.
Tôi đã rất vui mừng khi Trung tâm Điện ảnh MV chiếu phim "Mending the Line" để gây quỹ cho các cựu chiến binh trên đảo. Tôi vui đến nỗi đã xem phim ở nhà một ngày trước sự kiện, rồi đến buổi gây quỹ để xem trên màn hình lớn.
Giờ đây, tôi thấy biết ơn vì được cầm cần câu lên và quăng câu thỏa thích, hay có lẽ nên nói là cho đến khi nào tôi thỏa mãn. Cũng có cái đẹp trong cú xoáy. Tiếng dây văng vẳng khi quăng mạnh. Dõi theo mồi câu trên mặt nước khi nó trôi xa dần, chạm đất với tiếng nước bắn tung tóe, rồi lại nảy lên, rồi bắt đầu thu dây, và hy vọng lướt nhẹ trên mặt nước từng inch.
Khi chuông báo thức reo, nhắc nhở tôi đã đến giờ phải đến nơi trú ẩn, tôi mừng rỡ bước ra xe Jeep, người nhẹ bẫng hơn cả lúc lên bờ. Tôi chẳng bắt được con cá nào. Chẳng câu được con cá nào. Chẳng kéo được con cá nào. Chẳng thấy con cá nào cả. Dù sao thì, thế giới của tôi vẫn ổn. Tôi cứ thế mà quăng cần, đơn giản và thuần khiết, vì tình yêu với cần câu.
Tôi hy vọng sẽ được gặp bạn trên bãi biển và thỏa sức câu cá.