Theo cuốn Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (Hội đồng Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh), từ cuối thế kỷ XVI, lưu dân Việt Nam đã bắt đầu vào Nam bằng thuyền. Ngoài ra, họ còn đi lên ở vùng kinh đô nước Chân Lạp, họ đi sang kinh đô Ayuthia của nước Xiêm, lập làng xóm ở đó. Ở thành thị thì họ làm nghề thủ công, buôn bán, vận tải; ở thôn dã thì họ khai hoang lập ấp, cấy cày, đánh cá. Đi tới đâu, họ đều được chính quyền địa phương tín nhiệm về tay nghề, về tính cần cù và cả tinh thần chiến đấu bảo vệ đất nước mình đang ở và việc đối xử với chính quyền địa phương đó.
Khi lưu dân Việt Nam đến đất Sài Gòn, chưa phân biệt được họ thuộc các sắc tộc nào, nên được gọi chung họ là người “Man”. Người Việt thạo nghề trồng lúa nước từ ngàn xưa, vì vậy ngay từ ban đầu đã có sự phân công hòa hợp trong khai khẩn: người Việt làm các ruộng sâu có nhiều cỏ (gọi là thảo điền), người dân tộc làm các ruộng cao trên gò hay giồng (gọi là sơn điển). Chỉ trong mấy chục năm, người Việt đã tới khá đông, đủ sức khai khẩn các cánh đồng màu mỡ. Người Xtiêng, người Mạ và số rất ít người Miên rút dần về các vùng nhiều đồi núi, thích hợp với kỹ thuật làm rẫy, săn bắn và tổ chức buôn sóc hơn. Đầu thế kỷ XVIII, họ còn ở quanh vùng Gò Vấp, Hóc Môn, rồi thiên cư lần lên phía Bắc, ở những nơi mà người đồng tộc với họ đã cư trú từ lâu.
Những người Việt Nam hồi cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII cho đến gần hết thế kỷ XVII đã chinh phục thiên nhiên, làm chủ đất đai, “mở cõi” bằng chiếc búa phá rừng, bằng cái phảng chém cỏ, bằng lưỡi cày với đôi trâu. Vì vậy họ gắn bó bền chặt với ruộng vườn.
Có thể nói, lưu dân Việt Nam đã tới khẩn hoang lập ấp trên địa bàn Sài Gòn từ rất lâu trước năm 1674. Sài Gòn khi ấy có lẽ đã trở thành một thị trấn tương đối quan trọng, mà việc cai trị đều do lưu dân tự quản. Nam Bộ xưa, trước khi có lưu dân Việt Nam đến khẩn hoang lập ấp là đất rất hoang vắng. Dân Khơ Me còn tập trung và khai thác các vùng đất màu mỡ quanh Biển Hồ, chưa đủ số đông và công sức để khai hoang miền nam Thủy Chân Lạp, đặc biệt từ bờ Tiền Giang tới lưu vực sông Đồng Nai. Đây đó lác đác trên mấy giồng đất cao có ít sóc Miên hoặc buôn dân tộc, chính quyền chưa đặt thành cơ cấu hành chính hoàn chỉnh. Việc cai trị còn lỏng lẻo, rất sơ sài. Trong tình hình đó, người lưu dân Việt Nam đã sáng lập Sài Gòn từ một cánh rừng hoang bát ngát trở thành một trung tâm quân cư sầm uất.
Sài Gòn xưa được biết đến là rừng rậm hoang vu, rất ít dân cư. Từ khi lưu dân Việt Nam tới, Sài Gòn lần lượt trở thành một bến sông, một phố chợ, một sở thu thuế, một ngã tư giao dịch quốc tế, một đồn lũy chiến lược, rồi một trung tâm hành chính chung cho toàn miền Nam đất mới. Vị trí của Sài Gòn được khẳng định ngay trong thời dân lưu tán tự phát, vị trí đó mỗi ngày thêm quan trọng và liên tục tăng trưởng, chưa bao giờ bị thiên di hay xuống cấp.
Nguồn: Hội đồng Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, 4 tập, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2018; Nguyễn Đình Tư, Gia Định - Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh Dặm dài lịch sử, 2 tập, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2022.