I. Chuẩn bị trước khi đọc
1. Chuẩn bị
Câu hỏi (trang 99 Ngữ Văn 10 tập 1 - KNTT):
Trong cuộc sống, mỗi người đều có bổn phận trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng. Sống có trách nhiệm làm tròn nghĩa vụ, bổn phận với xã hội, gia đình và bản thân; dám làm, dám chịu trách nhiệm về những hành động của mình.
Theo em, việc thực hiện bổn phận với cộng đồng phải được đặt ở trên hết, là một công dân phải thực hiện đúng trách nhiệm với xã hội, không nên vì việc tư mà ảnh hưởng tới cộng đồng. Nếu bổn phận cộng đồng mâu thuẫn với bổn phận gia đình em sẽ cố gắng giải quyết việc trong gia đình để không ảnh hưởng tới xã hội. Ngược lại nếu không thể giải quyết việc trong gia đình thì em sẽ làm đúng với luật pháp và bổn phận với xã hội.
2. Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm
a. Tác giả Hô-me-rơ
Hô-me-rơ là nhà thơ huyền thoại của Hy Lạp cổ đại, được coi là tác giả của sử thi I-li-át và Ô-đi-xê. Ông được coi là một trong những nhà thơ Hy Lạp cổ đại xuất sắc nhất.
Một số tài liệu từ thời cổ đại ước định Hô-me-rơ sống trong khoảng thế kỉ VIII - VII trước Công nguyên, nhưng không thống nhất về quê quán của nhà thơ, không rõ ở Hy Lạp hay ở Tiểu Á.
Theo truyền thuyết, ông bị mù và là một người hát rong - kể chuyện tài năng.
Một số học giả cho rằng Hô-me-rơ có thể là một cái tên hư cấu, hoặc là tên gọi chung cho một tập thể người hát rong - kể chuyện từ thời cổ đại
Dù thế nào đi nữa, hai bộ sử thi cùng các tác phẩm được coi là của Hô-me-rơ cũng trở thành những mẫu mực của văn chương đối với nhiều thời đại về sau.
Hai tác phẩm nổi tiếng của ông là I-li-at và Ô-đi-xê được ghi chép lại chính thức vào thế kỉ thứ VI trước công nguyên theo lệnh của bạo chúa Athena lúc bấy giờ là Peisistrator. Tác phẩm I-li-at có nội dung dựa trên các thần thoại về cuộc chiến thành Troy, còn nội dung của Ô-đi-xê là trường ca kể về cuộc phiêu lưu của nhân vật chính Ô-đi-xê và hành trình trở về quê hương gian nan của người anh hùng này.
b. Tác phẩm. Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác
b.1 Thể loại
Sử thi
b.2 Xuất xứ
Sử thi I-li-at
- I-li-at được cho là ra đời từ thế kỉ VIII trước Công nguyên.
- Đây là thiên sử thi đồ sộ gồm 15693 câu thơ, chia làm 24 khúc ca, kể về những sự kiện diễn ra trong 51 ngày, năm thứ mười cuộc chiến trang của những người Hy Lạp tấn công thành Tơ-roa ở vùng tây bắc bán đảo Tiểu Á, cuộc chiến tranh được xác định là đã diễn ra vào khoảng thế kỉ XII trước Công nguyên.
- Với cốt truyện được huyền thoại hóa, I-li-at ngợi ca vẻ đẹp lý tưởng của con người trong chiến tranh.
Tóm tắt cốt truyện : I-li-at kể câu chuyện xảy ra đối với liên quân Hi Lạp trong năm thứ 10 của cuộc chiến tranh Hi Lạp - Troy. Đó là cơn giận của Achilles, do bị chủ tướng Agamemnon xúc phạm. Do lòng tham lam viên chủ tướng này đã giành lấy phần thưởng của Achilles là nàng Brizêix mà Achilles phải được hưởng do công lao của anh ta. Achilles tức giận vì sự tham lam vô sỉ đó, đã quyết định không tham gia vào chiến trận. Quân Troy thừa thế đã liên tiếp tấn công, gây cho quân Hi Lạp nhiều tổn thất, vì các chiến thuyền của họ đã bị người dẫn đầu quân Troy đốt cháy. Dũng tướng Hector, người chỉ huy quân đội Troy, trong một trận chiến đấu dũng cảm, đã giết chết Patrocle, bạn thân thiết của Achilles. Đau đớn vì mất bạn, Achilles quyết định trở lại chiến trường và chàng đã giết chết Hector. Bản trường ca kết thúc bằng cảnh tang lễ trọng thể của nhân dân thành Troy an táng người anh hùng Hector của thành bang mình.
Văn bản Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác
Vị trí: Được trích từ sử thi I-li-át, là đoạn trích từ câu thơ 370 đến 496, khúc ca VI, sử thi I-li-at.
Nội dung đoạn trích: Héc-to về nhà từ biệt Ăng-đrô-mác và con trai để quyết tâm ra trận. Vợ chồng gặp nhau mừng mừng tủi tủi, Ăng-đrô-mác khuyên Héc-to ở lại đừng ra trận vì không muốn mẹ góa con côi nhưng Héc-to quyết định dứt áo ra đi sau khi nói rõ lòng mình với Ăng-đrô-mác. Sau khi từ biệt Ăng-đrô-mác, Héc-to ra trận, dũng cảm chiến đấu với dũng tướng A-giắc của quân Hy Lạp.
II. Trải nghiệm cùng văn bản
1. Đọc văn bản
2. Trả lời câu hỏi đọc hiểu
Câu 1. Lưu ý những chi tiết miêu tả hành động và tâm trạng của Ăng-đrô-mác.
Gợi ý.
Những chi tiết miêu tả hành động và tâm trạng của Ăng-đrô-mác là:
- Nàng cùng con thơ với cô hầu gái xống áo thướt tha, đứng trên tháp canh nức nở, lòng đắng cay chan chứa nỗi buồn.
- Người như mất trí, bà vừa đi vừa chạy lên thành, đầu không ngoảnh lại.
Câu 2. Lý do nào khiến Ăng-đrô-mác không muốn Héc-to ra trận?
Gợi ý.
Ăng-đrô-mác không muốn Héc-to ra trận vì không muốn chàng phải mạo hiểm, bị sát hại, không muốn con thơ thành đứa trẻ mồ côi cha, mà bản thân mình cũng trở thành góa phụ. Trong lòng nàng, nàng đã coi Héc-to là người thân kính yêu duy nhất của mình, không chỉ là chồng mà còn là cha, là mẹ, là chỗ dựa lớn nhất của nàng nên rất sợ mất đi Héc-to.
Câu 3. Lưu ý những lí lẽ khiến Héc-to vẫn quyết định ra trận
Gợi ý.
Những lí lẽ khiến Héc-to vẫn quyết định ra trận là bởi vì:
- Chàng không muốn trở thành kẻ hèn nhát, phải hổ thẹn với những người anh em, lính chiến cùng xông pha ngoài chiến trận như mình.
- Chàng là người có nhiệt huyết, lý tưởng sống cao đẹp, từ lâu đã học cách luôn đứng ở tuyến đầu, can trường chiến đấu, giành vinh quang cho thân phụ và bản thân.
- Chàng không muốn mang nỗi thống khổ đến cho thành Tơ-roa, những người đàn em của mình và đặc biệt là Ăng-đrô-mác, không muốn nàng phải làm nô lệ, phục dịch cho người khác mà bản thân lại bất lực không thể giải thoát cho nàng.
Câu 4. Hình dung về cảnh tượng được miêu tả
Gợi ý.
Héc-to lưu luyến nhìn vợ con, không nỡ đi, muốn ôm con trai nhưng thằng bé lại khóc ré lên vì sợ, chàng tháo mũ và bế ẵm đứa con, cầu cho cậu bé những điều tốt đẹp nhất. Ăng-đrô-mác vừa đau lòng vừa không nỡ xa chồng, giúp chàng bế con và lưu luyến từ biệt chồng.
Câu 5. Chú ý đến ý thức của Héc-to về số phận và bổn phận
Gợi ý.
Ý thức của Héc-to về số phận và bổn phận được thể hiện qua câu nói:
- Vì đã sinh ra trên mặt đất này, chẳng một ai, dù quả cảm hay rụt rè, có thể chạy trốn được số phận.
- Chiến tranh là bổn phận của mỗi người đàn ông sinh ra tại thành I-li-ông này, nhất là ta.
3. Tìm hiểu chung
a. Bố cục
Văn bản chia thành 3 đoạn:
- Đoạn 1: Từ đầu đến “xông vào nơi đó”: Hành động và tâm trạng của Ăng - đrô- mác.
- Đoạn 2: Tiếp theo đến “than xé ruột của nàng”: Hành động và tâm trạng của Héc - to.
- Đoạn 3: Còn lại: Quyết định dứt khoát, thể hiện tinh thần trách nhiệm của anh hùng Héc - to.
b. Nội dung chính
Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác là đoạn trích trong sử thi I-li-át kể về sự việc người anh hùng Héc-to về thăm và chia tay vợ con trước khi lên đường ra chiến trận. Đoạn trích thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng cũng như hình mẫu người anh hùng của người Hy Lạp cổ.
III. Suy ngẫm và phản hồi
1. Biến cố đặc trưng của sử thi I-li-át qua đoạn trích “Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác”
a. Cốt truyện sử thi I-li-át
(1) KHÚC CA I: Cuộc chiến vây hãm thành Tơ-roa của quân A-kê-en, tức quân Hy Lạp, bước sang năm thứ mười vẫn không phân thắng bại. A-khin, dũng tướng tài giỏi nhất của quân Hy Lạp, tức giận vì bị chủ soái A-ga-mem-nông tước mất chiến lợi phẩm là nàng Bri-dê-ít, quyết không tham chiến, đồng thời qua mẹ của mình là nữ thần Thê-ti-xơ, cầu xin thần Dớt làm cho quân Hy Lạp thất bại. Thần Dớt hứa hẹn, nhưng chưa thực hiện lời hứa.
(2) KHÚC CA II - IV: Thoả thuận về một cuộc chiến tay đôi chấm dứt chiến tranh không thành, quân Hy Lạp và quân Tơ-roa lại tiếp tục giao chiến.
(3) HÉC-TO TỪ BIỆT ĂNG-ĐRÔ-MÁC (KHÚC CA VI): Cuộc chiến nơi hạ giới luôn có sự can thiệp của các vị thần chia làm hai phe ủng hộ hai bên. Quân Hy Lạp nhất thời giành thế áp đảo (KHÚC CA V). Hoàng tử Héc-to, chủ soái quân đội thành Tơ-roa, quay vào thành thúc giục binh sĩ, khẩn cầu nữ thần A-tê-na giúp đỡ. Chàng ghé về nhà thăm vợ con.
(4) KHÚC CA VII: Sau khi từ biệt Ăng-đrô-mác, Héc-to ra trận, dũng cảm chiến đấu với dũng tướng A-giắc của quân Hy Lạp.
(5) KHÚC CA VIII - X: Thần Dớt bắt đầu thực hiện lời hứa của mình: làm cho quân Hy Lạp thất thế trong khi A-khin kiên quyết không tham chiến.
(6) KHÚC CA XI - XV: Quân Tơ-roa đánh lui quân. Hy Lạp tới các chiến thuyền ngoài bờ biển.
(7) KHÚC CA XVI: Pa-tơ-rô-clơ, chiến hữu thân cận của A-khin, mượn giáp trụ và vũ khí của A-khin xung trận. Pa-tơ-rô-clơ bị Héc-to giết chết.
(8) KHÚC CA XVII: Dũng tướng Mê-nê-lát kiên cường chiến đấu giành lại thi thể của Pa-tơ-rô-clơ.
(9) KHÚC CA XVIII: A-khin nhận được tin báo Pa-tơ-rô-clơ tử trận.
(10) KHÚC CA XIX - XXI: Nỗi đau thương và khát vọng trả thù cho bạn thôi thúc A-khin quay lại chiến trường, giành thế áp đảo cho quân Hy Lạp.
(11) KHÚC CA XXII - XXIII: A-khin giết chết Héc-to, kéo xác chàng quanh thành.
(12) KHÚC CA XXIV: A-khin trả lại thi hài Héc-to cho vua Pri-am khi xúc động trước nỗi đau của người cha tới chuộc xác con. Sử thi I-li-át khép lại với lễ an táng Héc-to cùng những binh sĩ tử trận của cả hai bên.
b. Biến cố đặc trưng và ý nghĩa
Biến cố quan trọng dẫn đến việc Héc-to phải từ biệt Ăng-đrô-mác là việc thành Tơ-roa bị quân Hy Lạp vây hãm, tình thế hết sức nguy nan.
Ý nghĩa:
- Đây là một biến cố đặc trưng của sử thi vì nó là sự kiện lớn, liên quan đến vận mệnh của cộng đồng.
- Biến cố này đặt nhân vật Héc-to vào tình thế bắt buộc phải chọn lựa:
- Ở lại thành Tơ-roa để giữ an toàn cho bản thân
- Hay mở cổng thành, ra trận nghênh chiến với kẻ thù để thực hiện bổn phận và bảo toàn danh dự.
- Thông qua quyết định lựa chọn đó, nhân vật bộc lộ rõ phẩm chất của mình.
2. Đặc trưng của không gian sử thi trong đoạn trích
a. Các chi tiết biểu hiện không gian:
“Héc-to về tới ngôi nhà êm ấm của mình, nhưng không thấy Ăng-đrô-mác cánh tay trắng ngần trong buồng như thường lệ”
“Nàng đứng trên tháp canh nức nở”
“Bà vừa đi vừa chạy lên thành”
“Héc-to tức thì rời nhà, chạy ngược theo những dãy phố thành Tơ-roa xây dựng khang trang. Xuyên qua phố xã thành Tơ-roa rộng lớn, chàng tới cổng X-kê”
b. Đặc điểm của không gian nghệ thuật:
Tình cảm riêng tư của nhân vật được bộc lộ trong cuộc trò chuyện ngay tại cổng thành - Biểu tượng của không gian cộng đồng trong chiến tranh. Trong lời đối thoại của Ăng-đrô-mác và Héc-to, hình ảnh của thành Tơ-roa cũng liên tục được nhắc tới.
⇒ Không gian cộng đồng là không gian đặc trưng của sử thi:
- Chiến trường, thành lũy, tháp canh, phố xá,… không chỉ là nơi nhân vật sử thi bộc lộ sức mạnh phi thường và phẩm chất can trường của mình, mà còn làm nền cho những tình cảm riêng tư nhất của con người.
- Người anh hùng sử thi cũng là người gắn bó mật thiết với mảnh đất quê hương của họ, sự sống và cái chết, niềm vinh quang và nỗi đau khổ của họ đều gắn với sự tồn vong, thịnh suy của thành lũy, pháo đài,…
- Những không gian tòa tháp, thành lũy, phố xá thành Tơ-roa, cổng Xkê,… đều là những không gian rộng lớn, kì vĩ trong đời sống của cộng đồng cư dân thời cổ đại. Chúng được nhắc tới trong văn bản đã thể hiện sự xây dựng nghệ thuật hình tượng hoành tráng của thể loại sử thi. Đồng thời những không gian trên như là minh chứng tồn tại cho đến ngày nay nhắc lại sự kiện lịch sử có thật xảy ra vào thế kỉ XII trước CN, cuộc chiến diễn ra ở thành Tơ-roa giữa quân Hi lạp và quân Tơ-roa.
3. Đặc điểm của thế giới nhân vật trong sử thi
a. Nhân vật được khắc họa với những đặc điểm cố định
Đặc điểm của các nhân vật sử thi trong đoạn trích “Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác” được khắc họa thông qua những từ ngữ lặp lại:
- Ăng-đrô-mác cánh tay trắng ngần
- Cô hầu gái áo xống thướt tha
- Những cô dâu trang phục diễm lệ
- Các phu nhân thành Tơ-roa vấn tóc chỉnh tề
- A-khin có đôi chân nhanh, ánh đồng sáng lóa, mũ trụ sáng loáng,…
⇒ Các từ ngữ này thường là các tính từ, các phép so sánh nhằm miêu tả đặc điểm bên ngoài hoặc phẩm chất bên trong của nhân vật, các danh từ hoặc cụm danh từ giúp giải thích về nguồn gốc, dòng dõi xuất thân của các nhân vật.
Nguyên nhân: Do sử thi tồn tại dưới hình thức truyền miệng, song lại có dung lượng lớn, câu chuyện vì thế không được kể liên tục mà bị ngắt quãng thành nhiều đoạn, do đó, để giúp người nghe có thể ghi nhớ, có ấn tượng sâu sắc về các nhân vật, người kể chuyện sử thi phảo lặp đi lặp lại các từ ngữ miêu tả nhân vật. Những từ ngữ này thường được gọi là tính ngữ cố định, là một trong những đặc trưng rất quan trọng của thể loại sử thi.
⇒ Tác dụng: Việc lặp lại các từ ngữ như vậy giúp cụ thể hóa và khắc ghi đặc điểm của nhân vật vào tâm trí của người đọc, đồng thời tạo nên nhịp điệu kể chuyện chậm rãi của sử thi.
b. Nhân vật Ăng-đrô-mác
Lời nói:
- “Ôi, chàng thật tệ! Lòng can đảm của chàng sẽ hủy hoại chàng!”
- Ra trận, bọn A-kê-en nhất loạt xông lên sẽ tức khắc hạ sát chàng, chẳng mấy nữa thiếp thành góa phụ. Thiếp nguyện xuống mồ sâu còn hươn để mất chàng. Chàng bỏ thiếp lại một mình, còn gì tha thiết trên cõi đời này nữa”.
- “Xin chàng hãy rủ lòng thương thiếp và con mà đừng ra trận, hãy ở lại trên tháp canh này, đừng để trẻ thơ phải mồ côi, vợ hiền thành góa phụ”.
- “Hãy bố trí một tóa quân chốt chặn chỗ cây vả, nơi dễ leo lên tường thành, dễ vào thành nhất. Đã ba lần, những dũng sĩ quả cảm dưới sự chỉ huy của I-đô-mê-nê danh tiếng, của hai gã A-giắc, hai người con lừng danh của A-tơ-rê và người con trai dũng mãnh của Ti-đê tấn công vào chính chỗ này”
- …
Hành động:
- Nghe tin quân A-kê-en khí thế áp đảo, những chiến binh Tơ-roa buộc phải rút lui, phu nhân vội vã tới tòa tháp lớn thành I-li-ông.
Phẩm chất:
- Từ những hành động và lời nói của Ăng-đrô-mác một mặt cho thấy tình yêu thương của nàng đối với Héc-to, một mặt cho thấy ý thức về bổn phận của Ăng-đrô-mác. Trong tận cùng nỗi lo lắng và đau khổ, Ăng-đô-mác vẫn không quên nghĩ đến bổn phận và trách nhiệm của mình đối với thành Tơ-roa.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật và quan niệm nhân sinh của người Hy Lạp:
- Tác gủa miêu tả rất tinh tế diễn biến nội tâm của nhân vật Ăng-đrô-mác, đặc biệt là những ám ảnh về quá khứ, dự cảm về tương lai, sự đau khổ, giằng co giữa một bên là tình yêu đối với Héc-to, một bên là ý thức về bổn phận.
- Qua nhân vật Ăng-đrô-mác, ta cũng có thể thấy được ý thức về cá nhân và cộng đồng của người Hy Lạp cổ đại.
c. Nhân vật Héc-to
Hành động: Quyết định mở cổng thành nghênh chiến với quân Hy Lạp.
⇒ Nhân vật sử thi là nhân vật đại diện cho cộng đồng, hành động theo nguyên tắc danh dự. Ý thức về nỗi hổ thẹn nếu không xung trận, bầu nhiệt huyết, khát vọng chiến đấu, giành vinh quang cho thân phụ và bản thân chính là động cơ thôi thúc Héc-to ra trận. Ở đây, ta có thể thấy, những tình cảm cá nhân như tình cảm gia đình, nỗi sợ hãi, lo lắng về tương lai dù rất sống động, vẫn bị gạt sang một bên trước bổn phận và danh dự.
Lời nói:
- “Nhưng sẽ hổ thẹn xiết bao với những chiến binh và những người phụ nữ thành Tơ-roa xống áo thướt tha, nếu ta ở lại đây như kẻ hèn nhát, đứng nhìn từ xa, tránh không xung trận. Hơn nữa, bầu nhiệt huyết trong ta không cho phép ta làm vậy: từ lâu ta đã học cách luôn ở tuyến đầu, can trường, chiến đấu, giành vinh quang cho thân phụ và bản thân”.
- …
Phẩm chất:
- Héc-to là người hết lòng thương yêu gia đình.
- Dũng cảm, ngoan cường, coi trọng danh dự, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ thành bang, sẵn sàng gạt tình riêng vì nghĩa lớn, suy ra, đó là phẩm chất của người anh hùng đại diện cộng đồng.
Hình mẫu về người anh hùng theo quan niệm của người Hy Lạp cổ đại qua nhân vật Héc-to: Sự kết hợp hài hòa giữa:
- Con người cá nhân với ý chí tự do, tình cảm gia đình, tình bằng hữu bổn phận và danh dự.
- Con người cộng đồng với ý thức về trách nhiệm, bổn phận và danh dự.
⇒ Tính hài hòa sử thi này đã tạo nên vẻ đẹp cao cả của các nhân vật anh hùng trong sử thi Hi Lạp.
Tóm lại
Về nhân vật anh hùng trong sử thi “I-li-át”: Trong sử thi “I-li-át” có rất nhiều nhân vật anh hùng: A-khin sức mạnh phi thường, dũng mãnh vô song, Mê-nê-lát dũng cảm, kiêu hùng,… Tất cả các nhân vật này đều có chung các phẩm chất: dũng cảm, coi trọng danh dự, khát khao chiến thắng. Những nhân vật anh hùng của Hô-me-rơ dù có tính cách khác nhau, ở những chiến tuyến đối lập nhau, song vẫn có những phẩm chất giống nhau, là bởi họ đại diện cho lí tưởng, khát vọng của cộng đồng. Đó chính là đặc trưng của nhân vật sử thi.
IV. Đọc kết nối viết
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích một chi tiết mà bạn cho là đặc sắc nhất trong đoạn trích.
Bài tham khảo
Qua những tình tiết gây cấn, hấp dẫn của khúc tráng ca về người anh hùng sử thi qua đoạn trích, độc giả không khỏi bồi hồi bởi vẻ đẹp sáng ngời qua phẩm chất của người anh hùng Hy Lạp cổ đại. Trong đó, một trong số những chi tiết góp phần làm nổi bật hình tượng người anh hùng sử thi chính là chi tiết “Héc-to lừng danh cúi xuống ôm con trai vào lòng” sau khi nói rõ với Ăng-đrô-mác về lý tưởng ra trận của mình đã để lại trong lòng em nhiều ấn tượng. Đó là cái ôm từ biệt, từ biệt đứa con trai yêu quý và cũng là từ biệt Ăng-đrô-mác để lên đường nhưng đứa con lại sợ hãi chàng mà không muốn gần cha. Héc-to lúc đó đã tháo mũ trụ của mình để bồng đứa bé. Điều đó đã cho thấy hình ảnh một người cha hồn hậu, ấm áp ở Héc-to bên cạnh người anh hùng cầm khiên oai phong, sáng loáng ngoài chiến trận. Hình ảnh ấy là một tấm gương phản chiếu khác của chàng, giúp nhân vật thể hiện rõ hơn những mặt khác nhau trong tính cách chứ không chỉ bó hẹp trong hình ảnh người anh hùng. Người anh hùng trong hoàn cảnh này đã trút khiên, trút mũ xuống để bồng trên tay đứa con, cho thấy vẻ đẹp của tình cha con, của người anh hùng khi tách rời chiến trận. Đồng thời khẳng định người anh hùng không chỉ đẹp ngoài chiến trận, không chỉ mạnh mẽ khi chinh chiến mà còn đẹp trong cả khoảnh khắc đứng bên gia đình nhỏ, cũng cho thấy sự trở lại của Héc-to đã đem đến cho mẹ con Ăng-đrô-mác rất nhiều sự an ủi và ấm áp, đã thổi bùng lên ngọn lửa thiết tha mong nhớ của hai mẹ con. Chi tiết ấy khiến người đọc xúc động mà cũng cảm động, đọng lại nhiều dư vị và dấu ấn.
V. Vận dụng, liên hệ
Làm rõ ý nghĩa/ vấn đề nhân sinh từ đoạn trích “Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác” và liên hệ với cuộc sống hiện nay.
Gợi ý
Đoạn trích đã đặt ra vấn đề số phận của con người trong chiến tranh:
- Chiến tranh không chỉ cướp đi sinh mệnh của những người thân yêu của Ăng-đrô-mác, mà còn trở thành một nỗi sợ hãi, ám ảnh, thành dự cảm chẳng lành của nàng khi nghĩ về tương lai.
- Trong hình dung của Héc-to, chiến tranh không những có thể khiến chàng bị vùi xác nơi sa trường, mà còn để lại những nỗi thống khổ, nhục nhã và đau xót cho người thân của chàng. Vấn đề này là vấn đề muôn thuở của nhân loại, vì ngày nay, chiến tranh vẫn luôn là nỗi ám ảnh của nhiều quốc gia trên thế giới.
Đoạn trích đặt ra vấn đề trách nhiệm và bổn phận của con người với cộng đồng. Héc-to đã quyết tâm mở cồng thành vì trách nhiệm, bổn phận của chàng là bảo vệ Tơ-roa. Con người dù sống ở bất cứ thời đại nào đều là một cá thể trong cộng đồng, đều có những nghĩa vụ và trách nhiệm nhất định với cộng đồng của mình. Vì thế, vấn đề được đặt ra trong sử thi cũng là vấn đề có ý nghĩa nhân loại.
Đoạn trích gợi những suy tư về mối quan hệ giữa con người và định mệnh. Héc- to và Ăng-đrô-mác đều có dự cảm và thậm chí biết rõ sẽ tới ngày thành Tơ-roa thất thủ, đều biết rõ cái chết và nỗi đau khổ sẽ xảy đến với mình. Nhưng ý thức về danh dự và bổn phận đã giúp cho Héc-to đủ can đảm đối diện với định mệnh. Tuy quan niệm của con người đương đại về định mệnh có thể khác với quan niệm của người Hy Lạp cổ xưa, nhưng những suy tư về định mệnh vẫn thường trực trong tâm thức nhân loại ở bất cứ thời đại nào. Vũ khí để con người chống chọi với định mệnh chính là khả năng nghĩ đến nhau, kết nối, thương yêu nhau trong một cộng đồng và ý thức về bổn phận, danh dự đối với cộng đồng như minh chứng cho sự tồn tại của một nhân cách.
Biên soạn: GV Nguyễn Duy Tuấn
SĐT: 0945 441181
Đơn vị: Trung Tâm Đức Trí - 0286 6540419
Địa chỉ: 26/5 đường số 4, KP 3, P. Bình Hưng Hòa A, Q. Bình Tân, TP. HCM
Fanpage: https://www.fb.com/ttductri