(Ngày ngày viết chữ) “Quang khuê tảo” là loạt bài giới thiệu một số từ ngữ trong thơ văn Nguyễn Trãi do Ngày ngày viết chữ thực hiện. Tên loạt bài lấy từ câu “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” trong bài Quân minh thần lương của Lê Thánh Tông.
Về ba từ “Quang khuê tảo”, chữ Hán viết là 光奎藻, trong đó:
- “Quang” là toả sáng.
- “Khuê” là sao Khuê một trong Nhị thập bát tú, tượng trưng cho văn chương.
- “Tảo” là rong, chỉ loại cỏ sống dưới nước và có văn vẻ đẹp đẽ. Từ điển Thiều Chửu giảng: cổ nhân dùng tảo để trang sức mũ áo cho đẹp, cho nên cái gì dùng làm văn sức đều gọi là tảo. Như từ tảo 詞藻 lời đẹp, cũng viết là 辭藻. Lấy lời tốt đẹp mà khen lao người gọi là tảo sức 藻飾. Bình luận nhân vật gọi là phẩm tảo 品藻 hay tảo giám 藻鑑.
Người xưa dùng “khuê tảo” để chỉ văn chương, văn hay ý đẹp thì gọi là “khuê tảo”. Và “quang khuê tảo” nghĩa là “toả sáng trong văn chương” (nhiều khi bị hiểu nhầm thành “sáng như sao Khuê buổi sớm” do từ tảo - 藻 đồng âm với từ tảo - 早 nghĩa là “sớm”).
Dưới đây là các bài viết trong loạt bài “Quang khuê tảo” Ngày ngày viết chữ đã thực hiện.
★ Mực thước - Cân xưng ★
Nguyễn Trãi có hai câu này rất thấm:
Mực thước thế gian dầu có phải,Cân xưng thiên hạ dễ đâu tày.(Bảo kính cảnh giới bài 45)
Sách Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm (Kiều Thu Hoạch) giải thích*:
- Mực thước: do từ thằng xích 繩尺, chỉ pháp độ (tức phép đo - NNVC). Chữ xích 尺là cái thước. Chữ “thằng” do cụm từ thằng mặc 繩墨 là dây tẩm mực đen của thợ mộc dùng để bật in xuống tấm ván gỗ làm chừng mà xẻ hay đẽo.
- Cân xưng, chữ Hán là 斤稱, chỉ cái cân, hành động cân để biết nặng nhẹ. Chữ 稱** có hai âm, âm “xưng” và “xứng” (ta hay nói “cân xứng”), động từ chỉ hành động cân, danh từ chỉ cái cân.
Mực thước nói chung dùng để chỉ thể thức, phép tắc phải theo (như người thợ mộc dùng thước để đo, dùng dây mực làm dấu trên gỗ mà cưa, mà đục đẽo cho thẳng). Cân xưng chỉ sự công bằng, cân nhắc nặng nhẹ. Ta có thành ngữ “cầm cân nảy mực”.
Hai câu của Nguyễn Trãi, Kiều Thu Hoạch giải thích là: “Mực thước trong đời dẫu có phải ở cho đúng, nhưng giữ được công bằng thì thiên hạ không phải ai cũng như ai.”
Sách Nguyễn Trãi toàn tập (Viện Sử học) giảng: “Dầu ở đời có phải ở cho mực thước nữa, nhưng giữ được công bằng thì thiên hạ cũng ít người làm được.”
___________
* Sách viết chi tiết hơn, ở đây NNVC lược ghi.** Chữ xưng 稱 còn có nghĩa là “gọi là, gọi bằng” hoặc “khen ngợi”, trong xưng hô, xưng tụng.
[Thị phi nào đến cõi yên hà]
Bài Ngôn chí thứ ba trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi mở đầu bằng hai câu này:Am trúc hiên mai ngày tháng qua,Thị phi nào đến cõi yên hà.
Sách Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm - Khảo cứu văn bản học so sánh của Kiều Thu Hoạch giảng:- Thị phi: 是非, điều phải trái, chỉ dư luận khen chê, bàn tán.- Cõi yên hà: cõi khói mây, chỉ vùng sơn thuỷ hoang vu, tịch mịch xa xôi nơi dân cư, thường chỉ nơi ở ẩn của người ẩn dật, lánh đời. Cả câu ý nói: Những điều khen chê phải trái làm sao có thể đến được nơi ta ẩn dật, lánh đời.
Từ “yên hà” (煙霞) này, cũng trong Quốc âm thi tập bài Thuật hứng số 24, Nguyễn Trãi dùng trong câu: “Thuyền chở yên hà nặng vạy then”*. Trong Ức Trai thi tập, bài Khất nhân hoạ Côn Sơn đồ, Nguyễn Trãi cũng có dùng, trong câu: “Yên hà lãnh lạc trường kham đoạn” (Khói ráng chiều quạnh quẽ, buồn đứt ruột).
Hình ảnh “am trúc hiên mai” ở câu đầu cũng là cảnh ở ẩn, làm bạn với trúc mai. Ngôn chí bài 6 cũng có hình ảnh tương tự:Án sách cây đèn hai bạn cũ,Song mai hiên trúc một lòng thanh.
Về chuyện “Thị phi nào đến cõi yên hà”, trong Quốc âm thi tập cũng còn nhiều bài chứa những dòng thơ cùng một tư tưởng, chẳng hạn:- Sự thế dữ lành ai hỏi đến,Bảo rằng ông đã điếc hai tai.(Ngôn chí bài 5)- Đã ngoài chưng thế dầu hơn thiệt,Chẳng quản ai khen chẳng quản chê.(Bảo kính cảnh giới bài 28)___________* Có tài liệu cho rằng bài Thuật hứng số 24 là thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ở đây chúng tôi căn cứ vào khảo cứu của Kiều Thu Hoạch (2022).
★ Tứ hải vĩnh thanh ★
Bản dịch* Bình ngô đại cáo đoạn cuối có câu: “Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn.” Cụm “bốn phương biển cả thanh bình”, bản gốc của Nguyễn Trãi viết là “tứ hải vĩnh thanh” (四海永清).
- “Tứ hải”, nghĩa đen là bốn biển, bốn bể, chỉ khắp nơi trong nước, khắp cõi nhân gian.
- Chữ “vĩnh” nghĩa là mãi mãi, là chữ vĩnh trong vĩnh hằng, vĩnh viễn.
- Chữ “thanh” này có nhiều nghĩa, nghĩa thường dùng nhất là trong sạch, như thanh liêm, thanh bạch, nhưng cũng có nghĩa là lặng, lặng yên, là chữ thanh trong thanh bình. Trong “tứ hải vĩnh thanh” thì chúng ta hiểu theo nghĩa yên lặng này. (Xin phân biệt với chữ thanh (青) là màu xanh hoặc chỉ tuổi trẻ, chữ thanh (聲) trong thanh âm, thanh điệu.)
“Tứ hải vĩnh thanh” nghĩa là bốn biển lặng yên mãi, chỉ cảnh thanh bình (thường là sau loạn lạc). Cụm “tứ hải vĩnh thanh” này, Nguyễn Trãi còn dùng trong bài Hạ tiệp kỳ 2, “Tứ hải vĩnh thanh tòng thử thỉ” (四海永清從此始), nghĩa là từ nay bốn biển sẽ lặng yên mãi. Chữ thỉ (始) nay thường dùng âm “thuỷ”, nghĩa là bắt đầu, như thuỷ chung, khởi thuỷ.
Còn từ “ngặt” ở đây có nghĩa là “nghèo”. Sách “Nguyễn Trãi toàn tập” (Viện Sử học, NXB Khoa học và Xã hội, 2020) giảng “chẳng âu ngặt” nghĩa là “chẳng lo nghèo”. Tự thán bài 1 của Nguyễn Trãi có câu “Càng một ngày càng ngặt đến xương”. “Ngặt đến xương” là “nghèo đến xương”. “Nguyễn Trãi toàn tập” cũng giảng thêm về cách nói “nghèo đến xương” này rằng, thơ Đỗ Phủ có chữ “cùng đáo cốt”; bài “Ký hữu” của Nguyễn Trãi thì dùng “bần đáo cốt” trong câu “Thập tải độc thư bần đáo cốt”, nghĩa là “Mười năm đọc sách nghèo đến xương”.
Quân tử hãy lăm bền chí cũ,Chẳng âu ngặt chẳng âu già.có thể tạm hiểu là cứ nhằm vào, giữ chặt lấy “chí cũ”, chẳng lo nghèo cũng chẳng lo già. Về “chí cũ” của Nguyễn Trãi, có lẽ là chí về ở ẩn, về hưởng thú điền viên. Lạm bàn một chút, mở rộng ra, hai câu này kỳ thực rất có sức cổ vũ, cho dù “chí cũ” của ta là gì, cũng đều có thể dùng hai câu này để tự nhủ lòng.
Trong bài “Thứ Cúc Pha tặng thi” (Ức Trai thi tập), Nguyễn Trãi còn viết rằng:
Lưỡng nhãn hôn hoa đầu cánh bạch,Quyên ai hà dĩ đáp quân ân.兩眼昏花頭竟白,涓埃何以答君恩。Nghĩa là:Hai mắt đã loà đầu lại bạc,Lấy chút mảy may gì mà đền đáp ơn vua.
Trần Bích San cũng có thơ dùng “quyên ai” tương tự:Sinh bình vị hữu quyên ai báo,Thân thế vô năng hồ hải du.生平未有涓埃報,身世無能湖海遊。Nghĩa là:Bình sinh chưa đền đáp được mảy may,Thì thân này không thể rong chơi nơi hồ biển.
“Quyên ai” còn có một từ đồng nghĩa là “quyên trần” (涓塵) với “trần” - 塵 cũng có nghĩa là hạt bụi.
Trong “Gia huấn ca”, Nguyễn Trãi có viết rất chi tiết về “thư trung” và về những gì có trong sách, hay nói cách khác là những gì nhờ đọc sách mà có được theo quan niệm của người xưa. Số thứ tự trong ngoặc đơn dưới đây là do NNVC đánh thêm vào cho bạn đọc tiện theo dõi.
“Chẳng sợ kẻ lắm thầy nhiều tớ,Thấy ta nghèo ra sự rẻ khinh,(1) Thư trung lắm kẻ hiển vinh,Dập dìu hầu hạ, linh đình ngựa xe.
Chẳng sợ kẻ lắm tiền nhiều lúa,Nghĩ mình rằng có của thời hơn,(2) Thư trung kim ngọc vô vàn,Đầy khê chung đỉnh, chứa chan bạc vàng.
Chẳng sợ kẻ năm thê bảy thiếp,Đã hẳn rằng tốt đẹp hơn ai?(3) Thư trung có gái tuyệt vời,Những người mặt ngọc là người vẻ vang.
Chẳng sợ kẻ toà ngang dãy dọc,Khinh nhau rằng hàn ốc thê lương,(4) Thư trung tuấn vũ điêu tường,Lầu rồng gác phượng cột rường liền mây*.”
Về gốc tích, các trường hợp “thư trung” ở trên lần lượt xuất phát từ các câu sau:
(1) Thư trung lắm kẻ hiển vinh,Dập dìu hầu hạ, linh đình ngựa xe.Đây là do câu “Xuất môn mặc hận vô nhân tuỳ, thư trung xa mã đa như thốc”, nghĩa là ra cửa đừng sợ không có người hầu, trong sách xe ngựa nhiều như mũi tên. Ý nói cứ chăm học, thi đỗ thì có đủ mọi hiển vinh.
(2) Thư trung kim ngọc vô vàn,Đầy khê chung đỉnh, chứa chan bạc vàng.Đây là do câu “Thư trung tự hiểu thiên chung túc”, nghĩa là trong sách khắc có ngàn hộp thóc. “Đầy khê” (có bản viết “đầy khè”) có nghĩa là chứa tới tràn ngập ra ngoài. “Chung đỉnh” là cái chuông và cái vạc. Điển xưa rằng nhà giàu sang đông người ăn, thức ăn đựng trong những cái đỉnh. Tới giờ ăn thì dùng chuông thông báo. Do đó “đỉnh chung” cũng chỉ nhà giàu sang, quyền quý.
(3) Thư trung có gái tuyệt vời,Những người mặt ngọc là người vẻ vang.Đây là do câu “Thư trung hữu nữ kỳ nhan như ngọc”, nghĩa là trong sách có gái mặt đẹp như ngọc như từ điển của Bửu Kế đã nêu ở trên. Câu này ý nói siêng học, thi đỗ thì sẽ gặp được vợ tốt.
(4) Thư trung tuấn vũ điêu tường,Lầu rồng gác phượng cột rường liền mây.Còn trường hợp (4) này có nghĩa là trong sách có nhà cao lớn, tường vẽ với chạm trổ. Ý nói nhà xinh đẹp, sang trọng. Chữ “tuấn” ở đây có nghĩa là cao còn “vũ“ là mái nhà.
Nguyên đoạn trên nằm trong bài “Khuyên học trò chăm học” - bài cuối cùng trong “Gia huấn ca” của Nguyễn Trãi. Bài này còn có một đoạn rất hay khuyên người học trò nên vững chí học tập như sau:“Đường vân trình dù sau dù trước,Chữ công danh ai khác chi ai,Hễ người có chí có tài,Gió rung mặc gió, khôn dời khôn lay.”“Vân trình” (雲程) là đường mây, chỉ đường công danh.
___________
(*) “Gia huấn ca” là tác phẩm chủ yếu dạy những điều luân lý cho con cái, người ăn kẻ ở trong nhà. Về tác giả, tuy vẫn chưa thống nhất được có thật là Nguyễn Trãi hay không, nhưng hiện nay các nhà nghiên cứu tạm xem tác phẩm này là của Nguyễn Trãi.
[2]Hai câu tiếp theo:“Ngòi cạn ước ở làm cấn cấn,Cửa quyền biếng mặc áo thê thê.”- “Cấn cấn” là loài cá con.- “Áo thê thê” là áo dài lê thê.Hai câu này ý là, ta chỉ ước làm con cá nhỏ ở ngòi cạn, không muốn làm quan ở chốn “cửa quyền”. Sách “Nguyễn Trãi toàn tập” (Viện Sử Học, NXB Khoa học và Xã hội, 2020) bàn về ý thơ như sau: “Đời thái bình thì ra gánh vác việc lớn là phải; nhưng đời khó khăn (không phải sông sâu biển cả mà là ngòi cạn) thì ta làm con cấn cấn (về làm người nhà quê) cho dễ sống”.
[3]Hai câu tiếp theo:“Mừng cùng viên hạc quen lòng thắm,Đã kẻo thuần lư bảo hẹn về.”- “Viên” là con vượn, có thành ngữ “tâm viên ý mã” (心猿意馬) để nói cái tâm như vượn nhảy nhót, cái ý như ngựa chạy, chỉ tâm ý bất định, dễ xáo động.“Viên hạc” là vượn và hạc. “Dương Hựu đời Tống là người phóng khoáng, chỉ thích làm bạn với vượn và hạc ở chốn lâm tuyền, do đó sau người ta lấy viên hạc để chỉ cảnh huống người ẩn sĩ” (Sđd, tr.645).- “Thuần” là rau thuần, “lư” là cá vược. “Tấn thư chép rằng Trương Hàn làm quan ở Lạc Dương, khi gió thu đến, nhớ đến vị canh rau thuần và chả cá vược ở quê mình, bèn từ quan về nhà. Sau người ta dùng điển “thuần lư” để chỉ người từ quan về ẩn” (Sđd, tr.700).Ý chung của cả hai câu này nói về chuyện muốn về ở ẩn.
[4]Hai câu cuối là:“Thong thả dầu ta ngoài thế giới,La ngàn non nước một thằng hề.”- “Thằng hề” hay “hề đồng” tức là đứa đầy tớ trai nhỏ tuổi, cũng gọi “tiểu đồng”. Truyện thơ Nôm “Nhị độ mai” có câu: “Hề đồng theo bốn năm thằng / Thơ ninh ních túi, rượu lưng lửng bầu”.Ý của hai câu này, theo học giả Trần Văn Giáp là “đi lê la ở khoảng ngàn non nước (thiên sơn vạn thuỷ) với một thằng tiểu đồng” (Sđd, tr.700).
Tóm gọn lại thì có vẻ như “được thú làm quan mất thú quê”, lại vì thú quê coi bộ hấp dẫn hơn thú làm quan nhiều, do đó ta bỏ thú làm quan mà về với thú quê vậy.
Chữ “nhàn” ở đây có nghĩa là thôi, đừng, “lẵng đẵng” là dập dìu, qua lại dính líu nhau. Ý của hai câu là “đến khi chết, bên mồ hoang cỏ lục có còn thấy ai đâu, khuyên đừng có dập dìu với khách danh lợi nữa”.
(*) Theo “Nguyễn Trãi toàn tập”, Viện Sử Học, NXB Khoa học và Xã hội, 2020.
(**) “Từ điển Tiếng Việt”, Hoàng Phê Chủ biên, NXB Hồng Đức, 2020.
Nguyên văn bài thơ như sau:“Văn này ngâm thấy mấy chon von,Thương hải hay khao, thiết thạch mòn.Chí cũ ta liều nhiều sự hóc,Người xưa sử chép thấy ai còn?Nguyệt xuyên há dễ thâu lòng trúc,Nước chảy âu khôn xiết bóng non.Thong thả lại toan nào của tích,Bạch mai vàng cúc để cho con.”
“Thương hải hay khao, thiết thạch mòn” nghĩa là “biển xanh (thương hải) cũng thường khô thành bãi, sắt đá (thiết thạch) cũng thường mòn. Tức muôn vật đổi dời, không có gì vĩnh viễn”.
Nói thêm một chút về “bạch mai vàng cúc” ở cuối bài, bạch mai là hoa mai trắng, ví như bạc, vàng cúc là hoa cúc vàng, ví như vàng, đấy chính là vàng bạc để lại cho con cháu vậy, chứ bản thân thì cũng không có của cải gì.
Hai câu trên đại ý là lời khuyên răn vợ con trong nết ăn ở thường ngày. Toàn bài “Dạy vợ con cách ăn ở” này, tuy đôi chỗ nặng tính Nho gia xưa (đương nhiên khó tránh khỏi), nhưng tựu trung có nhiều chỗ đáng học, chẳng hạn mấy câu này:
“Thói mách lẻo, ngồi rồi bỏ hết,Hễ điều gì nói ít mới hay,Lân la giắt rợ, giắt rây,Đã hư công việc, lại dày tiếng tăm.”
“Dù thấy hậu sinh thời chớ để,Sừng kia chẳng mọc, mọc hơn tai.”(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 43)
Hai bài thơ này có nhiều điểm chung. Nếu Nguyễn Trãi viết “Thua được tình cờ có một mai” thì Nguyễn Bỉnh Khiêm viết “Dù được, dù thua, ai mặc ai”. Nếu Nguyễn Trãi viết “Có đức thì hơn nữa có tài” thì Nguyễn Bỉnh Khiêm viết “Hễ kẻ anh hùng những cậy tài”.Dưới đây là nguyên văn hai bài thơ để bạn đọc tham khảo.- Tự thán bài 22 (Nguyễn Trãi):Đương cơ ai dễ khứng nhường ai(*),Thua được tình cờ có một mai.Gạch quẳng nào bày mấy ngọc,Sừng hằng những mọc qua tai.Làm lành mới cậy chớ làm dữ,Có đức thì hơn nữa có tài.Mấy kẻ tư văn sinh đất Việt,Đạo này nối nắm để cho dài.- Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 43 (Nguyễn Bỉnh Khiêm):Nhưng nhưng mọi sự gác bên ngoài,Dù được, dù thua, ai mặc ai.Mùi thế gian nhiều mặn nhạt,Đường danh lợi có chông gai.Mấy người phú quý hay yên phận?(**)Hễ kẻ anh hùng những cậy tài.Dù thấy hậu sinh thời chớ để,Sừng kia chẳng mọc, mọc hơn tai.___________(*) Câu này nghĩa là người đang gặp thời thì ai lại chịu nhường cho kẻ khác.(**) Câu này nghĩa là có được mấy người phú quý mà biết yên phận, không đua tranh.
- “Thua” ở đây hiểu là người thất bại.
“Bành được thương thua con tạo hoá” nghĩa là người sống lâu, người đắc thắng, người chết non và người thất bại đều là do tạo hoá định trước cả.
Còn “Diều bay cá nhảy đạo tự nhiên” nghĩa là con diều thì bay trên trời, con cá thì nhảy dưới nước, đó là lẽ tự nhiên.
Dưới đây là đoạn trích bao gồm hai câu thơ trên:“Lấy điều ăn ở dạy con,Dẫu mà gặp tiết nước non xoay vần.Ở cho có đức có nhân,Mới mong đời trị được ăn lộc trời.Thương người tất tả ngược xuôi,Thương người lỡ bước, thương người bơ vơ.Thương người ôm dắt trẻ thơ,Thương người tuổi tác già nua bần hàn.Thương người quan quả cô đơn,Thương người lỡ bước lầm than kêu đường.”
___________* Cũng viết là “nhẩy”.
Sẽ còn cập nhật.