Hát Then - vốn văn hóa - văn nghệ cổ của dân tộc Tày - Nùng đang trên đường trở thành di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Trong kho tàng hát Then - đàn Tính phong phú đó có nhiều làn điệu hay, quý, nhiều lời Then đẹp - những viên ngọc quý đã trở thành dân ca được lưu truyền, gìn giữ lâu dài… một trong những viên ngọc quý đó là bài Then LẬP XUÂN của nhà thơ Tày Nông Viết Toại.
Thời bây giờ, muốn nghe, muốn xem biểu diễn bài Then Lập Xuân, gõ hàng chữ Hát Then - Lập Xuân có ngay hàng nghìn kết quả, thoải mái chọn, thỏa sức nghe những ca sĩ, nghệ sĩ, tốp Then trình diễn mà mình yêu thích và khi tiếng ca trong trẻo, êm ái cất lên sau khúc nhạc dạo đầu với lời ca mượt mà “Lập Xuân mà nghìn heng queng quí/Đông pù phông phú phí Bjoóc Bâư/Tha chiếu pây tỷ hâư củng quảng/Bjoóc Mặn phông nả táng pền khao” (Lập Xuân, nghe tiếng chim queng quí/Núi rừng hoa lá nở tốt tươi/Mắt nhìn xa nơi nơi rộng mở/Hoa mận trắng bung nở sân nhà) ta như được bay lên, bồng bềnh… nhập vào sắc xuân, đất trời rộng mở bao la, lòng người phơi phới đón xuân sang.
Nhà thơ Nông Viết Toại.
Nghe một lần là nhập tâm, là cảm, yêu thích rồi thành… nghiện! Vì thế mỗi lần nghe hát Then tôi không thể quên bài Lập Xuân và càng không thể quên khi biết Lập Xuân là một tuyệt phẩm thơ Tày của nhà thơ Nông Viết Toại! Một bài thơ ngắn chỉ có 12 câu thơ 7 chữ mà câu nào cũng hay, chữ nào cũng gợi bởi những hình ảnh đẹp đến… ngẩn ngơ! được đưa vào thơ uyển chuyển, lung linh với cách dùng từ lấp láy sống động, rất gợi, những là: “Đông pù phông phú phí bjoóc bâư”; “phạ kheo vằn vằn kheo kheo ón”…
Nhà thơ Nông Viết Toại sinh năm 1926 (năm nay tròn 90 tuổi). Với tôi, ông là bậc cha, chú. Trong làng văn, thơ ông là bậc trưởng lão nhưng ông coi tôi như người em, một người bạn văn mà ông quí mến nên tôi đã có nhiều dịp gặp ông chuyện trò và lĩnh hội từ ông biết bao nhiêu là chuyện từ chuyện văn đến chuyện đời, chuyện nhân tình, thế thái. Tôi học được từ ông rất nhiều và trưởng thành. Năm 2006, kỷ niệm 80 năm ngày sinh của ông, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn xuất bản tập thơ Tày Ngoảc đếnh (Nhìn lại) của ông, ông tin tưởng tôi và nhà nghiên cứu Văn hóa - Văn nghệ Vương Hùng viết lời giới thiệu bằng tiếng Tày in ở đầu tập sách với hình thức “Phuối Kháo” (Trò chuyện, mạn đàm). Năm 2012, lên Cao Bằng dự hội thảo ông đến thăm tôi và nhờ tôi mua dùm một con dao quắm, một con dao thái chuối chính hiệu Nùng An (Phúc Sen) để ông đi rừng và thái chuối chăn lợn! Tháng 12 - 2015, tôi tổ chức đám cưới cho con trai thứ hai, ông đã gửi thư và quà mừng… Tôi nhớ ông, nhớ Lập Xuân của ông, mở mạng nghe nhiều lần. Trong suy tưởng miên man về một điệu Then hay và lời Then (bài thơ) tuyệt vời, tôi bắt đầu nghiền ngẫm phân tích, mổ xẻ Lập Xuân theo lối phê bình thơ. Tôi tìm gặp hỏi chuyện nhiều nhạc sĩ, nghệ sĩ đã từng nghiên cứu, đã từng hát Lập Xuân để trao đổi. Mọi người đều khẳng định đó là bài Lặp Xuân (Đón Xuân) chứ không phải Lập Xuân (tiết Lập Xuân theo nông lịch!) Chữ Lập Xuân là do phiên âm bị “Chệch” đi thành chữ Lặp Xuân. Lời hát (bằng tiếng Việt) chỉ rõ điều đó:
Mùa Xuân về ngàn hoa khoe sắc Cho đàn chim queng quí hót vui Cho em ngân lời sli hò hẹn Xuân về hoa đào tô thắm quê hương
Vậy thì đích thị phải là Lặp Xuân chứ không thể là Lập Xuân! Để khẳng định chắc chắn tôi tải lời Tày bài Then Lập Xuân từ trên mạng và nhận được văn bản có cả lời Tày và cả lời Việt (ghi: đặt lời Thủy Tiên và Nông Viết Toại?!).
Soi trong bản tiếng Tày, tôi nhận ra ngay đây là bài thơ viết về tiết Lập Xuân theo nông lịch chứ không phải Lặp Xuân (Đón Xuân) bởi lời thơ hoàn toàn khẳng định điều đó! “cảnh sắc”, “sự việc” trong thơ đều nói về tiết Lập Xuân: “Queng quí roọng noọng slao má bắp” (chim Queng quí gọi em gái đem ngô giống ra ngâm); “phân tốc lồng mà hưa noọng đuổi” (Mưa xuống, đến giúp em với nhé!)… Vậy ra, từ bấy đến nay mọi người vẫn tưởng, vẫn đàn, vẫn hát Lập Xuân mà cứ ngỡ đang Lặp Xuân (Đón Xuân)! Và truyền cái sai, cái tưởng đó cho các thế hệ sau.
Khi đã thu thập đủ “tư liệu” “chứng cứ” tôi gọi điện thoại cho nhà thơ Nông Viết Toại, trình bày “chính kiến” của mình. Ông cười sảng khoái: “Hoàng Quảng Uyên đúng!. Lập Xuân chứ không thể là Lặp Xuân. Mà họ hát sai lời nhiều lắm!”. Tôi đọc từng câu trong bài thơ để ông chỉnh sửa đúng nguyên bản: (Bjoóc bâư chứ không phải buốt bâư; Nả táng pền khao chứ không phải Ná táng phông khao; rừ rủa chứ không phải rừ lụa…). Từ “đính chính” của chính tác giả tôi có nguyên bản bài Then Lập Xuân. Xin chép ra đây để mọi người cùng “sửa lại” khi hát:
LẬP XUÂNLập xuân mà nghìn heng queng quí Đông pù phông phú phí bjoóc bâư Tha chiếu pây tỉ hâư củng quảng Bjoóc mặn phông, nả táng pền khao
Queng quí roọng noọng slao má bắp Boong chài hưa căm cuốc, căm bai Tong chinh hắp cằn phai rừ rủa Pung nà au nặm khuổi đang đeo
Phạ kheo vằn vằn kheo kheo ón Phua cần hâư chướng chắp thây phưa Phân tốc lồng mà hưa noọng đuổi Thâng mùa tan noọng cỏi mà hưa.
Tôi hỏi nhà thơ về thời điểm và “hoàn cảnh” sáng tác bài Lập Xuân. Nhà thơ vui vẻ kể: bài Lập Xuân được viết năm 1955 (hơn sáu mươi năm về trước!) khi đó nhà thơ Nông Viết Toại là đội trưởng đội Văn công Việt Bắc (tiền thân của đội Văn công khu tự trị Việt Bắc). Các nhạc sĩ Đỗ Minh (tác giả ca khúc: Chào mừng Đảng Lao Động Việt Nam), nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (tác giả Tiếng đàn bầu) là đội phó. Để chuẩn bị cho lễ thành lập khu tự trị Việt Bắc, đội Văn công Việt Bắc được giao nhiệm vụ xây dựng một chương trình văn nghệ biểu diễn chào mừng. Là đội trưởng, một người yêu thơ, có khả năng đặt lời bài hát, nhà thơ Nông Viết Toại sáng tác bài Lập Xuân đúng tiết Lập Xuân 1955 để tốp Then hát như là một nhiệm vụ phục vụ công tác chính trị mà Đảng và đoàn thể giao cho. Sáng tác xong, ông đọc cho nhạc sĩ Đỗ Minh nghe, dịch ý bài thơ. Nhạc sĩ Đỗ Minh nghe rồi dịch ra tiếng Việt:
Mùa xuân về ngàn hoa khoe sắc Cho đàn chim queng quí hót vui Cho em ngân lời sli hò hẹn Xuân về hoa đào tô thắm quê hương
Lời sli rộn ràng vui bên suối Áo chàm ai thấp thoáng bên nương Em ước mong cùng nhau mùa này Ta trồng cây rừng cho núi thêm xanh
Ngày xuân về lời Then em hát Gió rừng ơi đưa câu hát đi xa Ai ơi cho gửi theo lời hẹn Đến mùa hoa anh nhớ thăm em.
“Dịch” như thế, bài Then có nội dung Lặp Xuân (Đón Xuân), chứ không có chút “hơi hướng” “cảnh sắc” tiết Lập Xuân như nguyên bản. Khác nhau nhiều lắm, vênh nhau nhiều lắm thế mà vẫn tồn tại được cùng năm tháng kể cũng lạ! Một “sự lạ” có thể giải thích được. Tuy nhiên vì bài viết đã dài và dễ bị coi là “lạc đề” nên tôi không bàn đến “sự lạ” ở đây. Tôi sẽ bàn điều lạ này trong một dịp khác.
Nhà văn Hoàng Quảng Uyên trong lần đến thăm nhà thơ Nông Viết Toại.
Nhà thơ Nông Viết Toại làm đội trưởng (sau đó làm trưởng đoàn) đoàn văn công Việt Bắc đến năm 1966 thì chuyển về Sở Văn hóa khu tự trị Việt Bắc. Năm 1963 đi học lớp viết văn của Hội Nhà văn Việt Nam ở Quảng Bá (cùng khóa với Nông Minh Châu, Vương Hùng, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Thị Ngọc Tú…) trong thời gian ông làm trưởng phòng nghệ thuật, Thường trực Hội Văn nghệ Việt Bắc, phòng của ông có nhiệm vụ đi các địa phương thu hồi sách chữ Hán, chữ Nôm (được cho là sách tuyên truyền mê tín dị đoan!) của các ông thày Tào, bà bụt, các nhà nho đem về xử lý. Ông đem về cất giữ chứ không tiêu hủy vì ông “cảm được” trong đó có những cuốn sách hay. Khi về hưu (1988) ông đem “đống sách cũ” đó về nhà. Năm 2012, có dịp qua nhà thăm ông, thấy tôi võ vẽ dăm ba chữ cổ, ông đã hào phóng tặng tôi số sách đó (tôi đã nhờ nhà thơ Dương Khâu Luông- Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn chở sách về Cao Bằng cho tôi). Về Cao Bằng thấy vốn chữ của mình quá ít nên đã đem số sách đó “tặng lại” cho những người “nhiều chữ” ở Cao Bằng như các ông Vương Hùng, ông Nông Dảnh, tiến sĩ Hán học Lê Thị Dung… và họ đã tìm ra được những cuốn sách hay trong đống sách cũ đó. Thế là tôi toại nguyện vì đã hoàn thành sự “ủy thác” của ông.
Tháng 8-2015, tôi về tỉnh Bắc Kạn chuẩn bị quay bộ phim tài liệu Bác Hồ ra trận - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tỉnh Bắc Kạn giới thiệu cho tôi những cuốn sách của nhà thơ Nông Viết Toại mà tôi “chưa biết”. Đó là các cuốn hồi ký Con đường Nam Tiến và Lịch sử Đảng bộ xã Cốc Đán, huyện Ngân Sơn (quê hương ông). Tôi đọc rất có hứng hai cuốn sách đó và nhận ra nhà thơ Nông Viết Toại là người viết rất hay thể ký (Hồi ký): Chính xác, trung thực, sinh động và đặc biệt rất có VĂN. Thật là “Ngôn chi bất văn, truyền chi bất viễn”. (Lời nói không có văn thì không thể truyền đi xa được). Những lời nói (sáng tác) của nhà thơ Nông Viết Toại rất có Văn nên đã truyền được đi xa, được giữ gìn, lưu truyền. Tôi không chút ngần ngại nới với các đồng chí Tỉnh ủy Bắc Kạn rằng: “Nhà thơ Nông Viết Toại là niềm tự hào, là tài sản quí của Bắc Kạn, của nền văn học - nghệ thuật của dân tộc thiểu số Việt Nam, của nền văn học nước nhà!”. Hẳn nhiên là như thế!
Tiết Lập Xuân năm 2016 đang đến, không khí Lặp Xuân (đón Xuân) đang rất rộn ràng, hứng khởi tôi lại nhớ về nhà thơ Nông Viết Toại ở Bản Áng (thành phố Bắc Kạn). Lặng lẽ, tĩnh tại bên con suối nhỏ, bên cánh rừng xào xạc lá hoa đua nở (Đông pù phông phú phí Bjoóc bâư) làm thơ, viết văn. “Ngoảc đếnh” (Nhìn lại), ghi chép những kỷ niệm, những trang sử của quê hương, cuộc đời, của làng văn nghệ. Vui cùng cỏ cây, hoa lá và cuộc đời. Kính chúc ông sức khỏe, an vui./.
Hoàng Quảng Uyên