THƠ LỤC BÁT và LỜI BÌNH

Cùng bạn đọc:

Câu lạc bộ Thơ lục bát Hà Nội đã được thành lập từ năm 2011, bao gồm nhiều Câu lạc bộ Thơ lục bát các quận, huyện và người yêu thơ lục bát trên địa bàn Thủ đô; có nhiều bạn thơ các tỉnh, thành phố bạn liên kết tham gia. Hội viên của CLB có nhiều người là Hội viên Hội nhà văn Hà Nội, Hội nhà văn Việt Nam.

Với tinh thần tích cực nhằm liên hiệp các CLB thơ lục bát Việt Nam, giữ gìn và phát huy giá trị đặc sắc mang tính truyền thống dân tộc của Thơ lục bát, CLB đã phát động sáng tác, tuyển in 8 tập Thơ lục bát Việt Nam, trong đó có sự góp mặt của nhiều cây bút thành danh trên cả nước; CLB còn có hàng trăm tác phẩm thơ in chung, in riêng khác, do Nhà xuất bản Hội nhà văn cấp phép. Trong những năm vừa qua, CLB đã tổ chức nhiều cuộc giao lưu thơ trên nhiều quận huyện thuộc Hà Nội và các tỉnh bạn; Tổ chức thi thơ, dựng quán thơ… có chất lượng khá tốt. Đầu năm 2023, CLB đã tổ chức thành công cuộc thi Thơ tình lục bát, có tác giả từ 24 tỉnh, thành tham dự, đã thành công tốt đẹp.

Nguyện vọng của các Hội viên CLB là không ngừng nâng cao chất lượng sáng tác Thơ lục bát, mong muốn được các nhà văn, nhà thơ cùng bạn đọc gần xa thẩm bình, góp ý xây dựng để các Hội viên được học tập, tiếp thu.

Xin trân trọng giới thiệu Trang thơ lục bát của CLB Thơ lục bát Hà Nội: BBT

NT Đ

Lời bình của Phong Thanh

…Có trong thơ Nguyễn Thị Điệp nhiều dòng nặng trữu suy tư, trăn trở như thế. Ẩn dụ thơ đã hoà tan vào tâm sự bộn bề kí ức, chẳng những không êm đềm, mà còn đầy tiếc nuối! Ngắt dòng lục bát tạo nhịp, như một cách tân, nhưng có lẽ, chủ ý của tác giả không nhằm để cách tân, mà để bày tỏ cảm xúc nghẹn ngào thổn thức trong con tim thiếu phụ vơi đầy trắc ẩn: “Chén này- Hoà giọt nắng mưa. Giọt thương, giọt nhớ, giọt chừa đớn đau…”

Thơ Nguyễn Thị Điệp thôi miên người đọc bằng những dòng như vậy!

Lời bình của Thiên Hương

Ức Trai xưa đã từng cay đắng thốt lên “Hoa thường hay héo, cỏ thường tươi”. Đấy là nỗi đau của một anh hùng dân tộc - danh nhân văn hóa thế giới, nhưng lại bị thời suy, thói tệ đẩy vào bước đường cùng, nhận thảm án vụ Lệ Chi viên…Câu thơ và những hình ảnh thơ đầy chất triết lý trên kia là hiểu xuôi. Rất đúng nghĩa, khi thấy cái đẹp thường bị dập vùi, tàn úa, chịu sự phũ phàng bởi quy luật nghiệt ngã của thời gian. Còn cái hoang dã, man dại lại nhiều khi lấn át đi mà tươi tốt tồn tại, dai dẳng.

Nhưng nếu hiểu ngược lại và nhìn nhận, đánh giá sâu hơn ở một phương diện khác, giác độ khác, thì cỏ dại cứ gì đã xấu: “Không người chăm sóc yêu thương / Mà xanh suốt những nẻo đường lạ chưa?” Loài cây hoang dại ấy cùng vạn vật trên thế gian này, dường như đều có linh, có số phận. Cái hay và niềm xúc động từ bài thơ, là tác giả đã nhân hóa toàn phần loài cỏ dại, để nó có dáng vẻ, tính cách và thân kiếp của con người nơi dương thế. Một hệ thống dầy đặc những ngôn từ, hình ảnh đã góp phần đắc lực, giúp người cầm bút tái hiện cả một đời của cỏ dại. Cũng giãi dầu, nhọc nhằn kiếp cỏ, phũ phàng bàn chân; cũng bị vô tình vô cảm; cũng bị “Dập vùi tơi tả nụ hoa / Vươn từ nhàu nát để mà hồi sinh”.

Thì hóa ra, kiếp cỏ phải chăng cũng là kiếp người - những kiếp người lam lũ , khốn khó nơi cõi tạm, nếu ta chịu nhìn sâu xa hơn và có những góc độ khác nhau mà đánh giá. Đừng định kiến, đổ riệt, vấy oan cho những kiếp cỏ dại “Xanh xao mắt lá nhìn trời / Gửi vào thăm thẳm đầy vơi nỗi niềm”. Thành ra, Nam Cao sống mãi khi ông khuyến nghị một cách nhìn: chao ôi, những người quanh ta, nếu ta không để ý mà tìm và hiểu, ta sẽ chẳng thấy gì cho ta thương và không thể nào thương được!

Lời bình củaKhánh Phú

Thơ văn về mảnh đất Côn Đảo linh thiêng, có giá trị văn hóa - lịch sử và cảnh quan kì vĩ vào bậc nhất nước ta, đã rất nhiều. Nhưng bài thơ “Đêm Côn Đảo” vẫn có một hướng đi riêng. Cảm xúc và cách thức diễn tả nhói vào nỗi đau tâm linh, niềm thương tiếc, kính phục và tri ân vô hạn vô hồi trước những chiến sỹ tử tù, nối nhau ngã xuống cho đất nước hòa bình; non sông tự do, độc lập.

Nhà thơ chọn một thời gian nghệ thuật, phù hợp với tập tục viếng mộ đêm ở Côn Đảo. Thời khắc giao thoa, giao hòa âm dương ấy, trong “lung linh những ngọn nến vàng”, rất gợi một không gian tâm linh, vừa bí ẩn “ảo mờ” vừa huyền nhiệm.

Có tới 2 lần, nhà thơ nhắc nhở: “Nhẹ thôi em, lựa bàn chân / Dưới kia bao lớp người nằm còn đau (…) / Nhẹ thôi em lựa bàn chân”. Nào biết lựa sao đây, khi mỗi mét đất nơi này vùi thây mấy tầng xương thịt tử tù, khiến cho mỗi bước ta đi, mỗi ánh mắt ta nhìn, mỗi lần bàn tay ta chạm phải, đều nhoi nhói một niềm đau. Thành kính tiếc thương và tri ân họ, vì họ là những người xuyên đêm đánh thức mặt trời và chấp nhận: “Người đi gọi dậy bình minh / Lúc nằm xuống vẫn quanh mình là đêm”. Câu thơ là cách nói mới, đa nghĩa và nhiều gợi cảm, là một trong những câu thơ - hình ảnh thơ, hay nhất cả bài.

Bài thơ “Đêm Hàng Dương” có những suy tưởng rộng và sâu, với nhiều câu chữ thơ đa ảnh, đa tình.

Nguyễn Thị Vân Nga (Hội viên Nhà văn Hà Nội)

THĂM LẠI ĐIỆN BIÊN

Điện Biên thăm lại nơi này

Rưng rưng nghèn nghẹn dâng đầy lòng ta

Líu lo chim ríu rít ca

Trời xuân rực rỡ chan hòa nắng tươi

Hoa ban nở trắng lưng đồi

Bước chân du khách bồi hồi, lạ chưa?

Một vùng trận mạc năm xưa

Nghe từ lòng đất, như vừa quân reo

Bước chân rung chuyển núi đèo

Hầm ngang hào dọc, dài theo chiến trường

Điện Biên vang dậy núi sông

Sử hồng mãi mãi ghi công những ngày…

Xưa làm hồn vía giặc bay

Ngày nay vùng đất đổi thay đã nhiều

Tượng đài kỳ vĩ bao nhiêu

Ta say đứng giữa một chiều Điện Biên.

Lời bình của Đỗ Như Trác

Là một cựu chiến binh từng trải qua 5 - 6 “ xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước ”; Vào chiến trường trực tiếp cầm súng chiến đấu cho đến ngày Giải phóng Việt Nam,… nay được đọc bài thơ của Nguyễn Hữu Quách, tôi hình dung ngay ra cảnh tượng những người lính cùng sư đoàn năm xưa, có cơ hội gặp nhau cùng nhau ôn lại “ một thời bên nhau ” trong chiến tranh bom đạn, càng thăm hỏi nhau cuộc sống hiện tại của mỗi người. Có bao nhiêu để nói… Nhưng nói gì thì nói họ đã không bao giờ quên nhắc tới những đồng đội còn “ nằm lại nơi cỏ hoa ” nào đó mãi mãi không về: “ Thời gian lắng mãi nỗi đau nghĩa tình ”. Với người lính, “ Nghĩa tình đồng đội ” là tất cả, là trên hết. Đúng như Nguyễn Hữu Quách đã khẳng định:

Phong Thanh (Hội viên Nhà văn Hà Nội)

THẢN NHIÊN VẠT CỎ

(Đọc bài thơ Nàng Xuân của Nhà thơ Ngô Nguyên Ngần)

Trong hàng trăm tác phẩm thơ của Nhà thơ Ngô Nguyên Ngần, người đọc có thể nhận ra một phong cách nghệ thuật đã định hình và rất thống nhất, đó là sự dung dị, gần gũi và tự nhiên, như hơi thở của cuộc sống, như nhịp đập của con tim và như cặp cánh của bầy chim tung bay giữa trời xanh, về viễn xứ.

Đây là một biểu đạt thơ độc đáo, vừa tao nhã lại vừa sâu sắc.

Khi tả Xuân, người ta hay nói đến nụ, đến hoa, đến hương sắc của thời khắc mở đầu cho năm mới. Ở đây tác giả gửi đến ta “vạt cỏ xanh mềm” ? Nguyễn Trãi có câu thơ “Hoa thường hay héo, cỏ thường tươi”, ngoài ý nghĩa nhân tình thế thái xót xa của thời “Lệ Chi viên”, còn là một triết lý sâu xa về sự sinh tồn, trường tồn. Hoa đẹp, đương nhiên, ai cũng thấy. Nhưng không phải ai cũng thấy vẻ đẹp của “vạt cỏ xanh mềm”. Với vẻ đẹp của cỏ, Nguyễn Du đã từng thốt lên: “Cỏ non xanh rợn chân trời” (Truyện Kiều).

Hoa nở có mùa, còn cỏ thì bất chấp mùa, bất chấp thổ nhưỡng, sống mạnh mẽ quanh năm. Sự sinh sôi nẩy nở của cỏ khiến chúng ta kinh ngạc. Một tướng giỏi của ta, trước pháp trường quân thù, từng nói: “Bao giờ hết cỏ nước Nam, thì mới hết người Nam đánh Tây!”. Đó là sức sống quật cường của cả một dân tộc. Vì thế, nói đến Xuân, tác giả cho ta một cảm nhận rất mới, rất lạ. Đó là cảm nhận về sức sống và vẻ đẹp tự nhiên của “vạt cỏ xanh mềm”, tạo ra một cảm giác tự tại và một nội lực căng tràn. Chú ý rằng trong Nàng Xuân, “cỏ xanh mềm” là loại cỏ mới nhú, non tơ, trẻ trung rất gợi cảm. Phải chăng, thi sỹ muốn nói đến nhựa xuân, một sức sống tiềm tàng, rạo rực mãnh liệt, cội nguồn của tình yêu đôi lứa!

Tả xuân, người ta thường nói đến môi hồng, mắt biếc, tiếng cười giọng nói, lời chúc tụng râm ran…Còn ở đây “Nàng Xuân bẽn lẽn” với “gót hài lãng đãng mơ màng”? Hình như có một cõi xuân riêng trong một mùa xuân đầy hương sắc? Tác giả đã khéo léo tả xuân đúng với hồn cốt của nét đẹp ban mai: “Nàng Xuân bẽn lẽn bên thềm vừa sang”. Nét đẹp ấy ẩn sâu trong duyên dáng, thùy mị, trong cảm giác mới mẻ, e lệ “bên thềm vừa sang”. Đây là phút thanh bình đầu tiên sau cuộc giao mùa dữ dội giữa tiết Đông tê tái trụi trơ với tiết Xuân rạo rực động cựa nơi chồi non, nụ biếc, giục giã sinh sôi. Tác giả đã mượn nét đẹp thiếu nữ, vẻ e ấp thơ ngây, thẹn thùng bẽn lẽn để tả hồn xuân phút ban đầu, thật tinh tế và thú vị.

Hình tượng Xuân ở đây không mới. “ Nàng Xuân”, hay “Nàng Thơ” vẫn thường được mượn một vẻ đẹp thiếu nữ để tả sự thanh khiết, tao nhã nhằm hướng tới một cái đẹp hoàn mĩ theo cách ngưỡng vọng. Nhưng ở dòng thơ cuối, nét đẹp thiếu nữ ấy lại được đặc tả bằng Gót hài lãng đãng mơ màng. “Gót hài” là một hình ảnh tuy ước lệ nhưng đã xuất hiện một thiếu nữ thực thụ.

Dòng thơ liền trên ta bắt gặp “Đào bông sắc thắm rộn ràng”. Tả xuân thì phải có đào, mai, dĩ nhiên rồi, đây cũng là một ước lệ. Nhưng có liên hệ gì không, giữa “Đào bông” và “Gót hài”. Trong hình ảnh ước lệ tả người đẹp, người ta thường dùng hình ảnh gót hoa, gót sen, thậm chí gót tiên. Lối trùng ngẫu được dùng ở đây kéo sát hình tượng Nàng Xuân - Người Xuân với mùa xuân thiên tạo. Các từ trạng thái “lãng đãng mơ màng” gợi nhớ tiết Thanh minh năm nào, khi Thúy Kiều lạc giữa “Một vùng như thể cây quỳnh cành giao”, lúc “dập dìu tài tử giai nhân” và là lúc nàng nhận ra “người trong mơ” Kim Trọng!

Hình tượng thơ vì thế sinh động và rất gợi cảm.

Đọc Nàng Xuân và suy ngẫm, càng thấy một bút pháp thơ tinh tế, đạt đến độ nhuần nhị trong cách sử dụng vần điệu câu từ, trả thơ về với sự giản dị, thuần khiết, nhẹ nhàng dễ thấm sâu vào lòng người.

Và, chúng ta lại gặp ở đây một hồn thơ thư thái, an bình tựa “thản nhiên vạt cỏ”.

Link nội dung: https://superkids.edu.vn/index.php/tho-luc-bat-hay-nhat-a14687.html