Lịch sử xã hội và lịch sử văn học luôn có những bước vận động, phát triển không ngừng, trong đó những sự vật mới ra đời luôn phủ định, kế thừa cái cũ để tạo nên bước đột phá cùng những cái mới có ý nghĩa. Sự sống còn của văn học nghệ thuật phụ thuộc vào tài năng sáng tạo của người nghệ sĩ. Chính vì vậy mà có nhà phê bình tâm huyết đã nói, đại ý rằng: tôi yêu những người mở đường nhưng thất bại, càng yêu hơn những người biết thất bại nhưng vẫn dám mở đường. Suy nghĩ về câu nói này, tôi càng thấy khâm phục hơn những người dám mở đường và đã thành công trong văn học thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Họ đã đưa những “đường gươm thử thách đồng thời là đường gươm bậc thầy” để khai phá con đường đầy thử thách và cũng đầy vinh quang. Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn Việt Nam đã làm được điều đó. Ông được đánh giá là “một trong những người mở đường tinh anh và tài năng nhất” (Nguyên Ngọc) của nền văn học Việt Nam đương đại. Sáng tác của ông là minh chứng thuyết phục nhất cho nhận định này.
Nguyễn Minh Châu là nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ và trong công cuộc đổi mới của dân tộc. Hành trình văn học của ông song song cùng tiến trình lịch sử vĩ đại của đất nước đồng thời cũng là quá trình tìm tòi, phản ánh và đi sát, đi sâu vào hiện thực kháng chiến, hiện thực đời sống của một ngòi bút luôn trăn trở vì sứ mệnh của nghệ thuật. Trước 1975, văn học dân tộc về cơ bản đi theo khuynh hướng văn học sử thi. Nguyễn Minh Châu cũng không đi ngược lại dòng chảy lịch sử ấy. Những Cửa sông, Dấu chân người lính, Lửa từ những ngôi nhà…đã ghi lại thời kì hào hùng của lịch sử dân tộc, bộc lộ một phẩm chất văn chương độc đáo của nhà văn. Nhưng ý thức cá nhân trong những tập truyện ấy của nhà văn đã hoà vào ý thức cộng đồng, ít nhiều xuất hiện cái riêng nhưng cái riêng ấy lại khá mờ nhạt hoặc thoảng như những thanh âm chợt vút lên rồi lại trầm lắng giữa muôn ngàn nốt lặng khác. Song Nguyễn Minh Châu không bao giờ dừng lại ở những gì mình đang có, luôn mang một trái tim trăn trở với nghệ thuật, chính vì thế mà ông đã sớm nhận ra giá trị đích thực của thứ văn chương mà mình cùng những người cầm bút khác đang viết. Đổi mới văn học dường như là khuynh hướng tất yếu trong sáng tác của nhà văn này, quan trọng hơn, người đặt chân lên một mảnh đất mới vào những giờ khắc đầu tiên luôn được coi là người có công khai phá, chính vì vậy ta có thể nhận ra nhà văn với tư cách của người mở đường. Vai trò ấy của Nguyễn Minh Châu thể hiện trên nhiều phương diện. Người viết bài này sẽ trình bày vấn đề này trên hai lĩnh vực chủ yếu.
Thứ nhất, Nguyễn Minh Châu là người khai phá, đặt nền móng cho văn nghệ trên phương diện lí luận. Bằng những quan niệm trực tiếp bộc lộ qua các bài tiểu luận, phê bình, nhà văn đã góp tiếng nói mạnh mẽ, quyết liệt và táo bạo trong việc cách tân, tìm tòi hướng đi cho sự đổi mới văn họ 2000 c. Không thể có sự đổi mới nếu như không có một ý thức thôi thúc nhà văn buộc phải viết khác đi những gì mình và các bạn văn đang viết, viết những gì làm cho tầm vóc của văn học thực sự lớn lao lên chứ không phải là viết những dòng văn phục vụ cho một vài thứ mục đích nhất thời nào đó. Ông viết: “Con đường đi của những nhà văn dám khám phá và sáng tạo, con đường đi của những người nghệ sĩ chân chính nói chung thường gập ghềnh và có khi nguy hiểm, thường ít người đi, vì thế vắng vẻ, và cái đích để đi đến bao giờ cũng xa xôi” (Văn học và cách mạng). Với “sự dũng cảm rất điềm đạm” (nhận xét của Vương Trí Nhàn), Nguyễn Minh Châu đã chọn con đường đầy nguy hiểm, ít người dám đi ấy. Trước hết, trong quan niệm văn học của mình, nhà văn mong muốn đến tột độ tháo được những cái ách lâu nay vẫn đè nặng lên tư tưởng của người cầm bút, để họ không phải che chắn, rào đón: “mỗi lúc phải cầm hai cây bút, một cây bút để viết cho người đọc bình thường, cho đời, một cây bút khác viết cho đạo, lo việc che chắn, viết cho lãnh đạo văn nghệ đọc. Mà cái ngọn bút thứ hai này, buồn thay, các nhà văn cầm lâu ngày để tự bảo vệ mình cho nên cũng lắm kinh nghiệm, mà cũng tài hoa lắm”. Không phải chỉ riêng Nguyễn Minh Châu mà giới cầm bút, hầu hết đều có thể nhận ra nghịch lí này, nhưng quyết tâm thay đổi nó và làm thế nào để có hiệu quả thực sự thì không phải ai cũng làm được. Trong cái “hành lang hẹp và thấp” ấy, nhà văn nhận ra rằng: “mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh hoạ, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn, cho chữ nghĩa những văn bản vốn đã sẵn mà chúng ta coi đấy là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn. Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt đường lối, chính sách bằng hình tượng văn học sinh động, và do nhiều lí do từ ngày đầu cách mạng, các nhà văn cũng tự nguyện, tự giác thấy nên và cần làm như thế…”. Thấy được sự cần thiết phải thay đổi, nhà văn mong muốn, yêu cầu phải thực sự có lối dành cho sự tự do sáng tạo của người nghệ sĩ, điều kiện tiên quyết, sống còn đối với sáng tạo nghệ thuật chân chính, đồng thời cũng thúc giục các nhà văn dũng cảm nắm lấy, thể hiện sự tự do trong cá tính ngòi bút của mình: “khuyến khích cá tính, khuyến khích sáng tạo và chấp nhận đa dạng, chấp nhận sáng tối, hoàn toàn đặt lòng tin vào lương tri các nhà văn, không nửa tin nửa ngờ và đề phòng, tạo cho văn nghệ một khoảng đất rộng rãi hơn nữa…” để “cái phần tài năng” không phải ngậm ngùi “trùm chăn nằm chờ ngày xuống mồ” (Hãy đọc lời ai điếu cho một nền văn nghệ minh hoạ).
Đòi hỏi sự tự do sáng tạo cho những người cầm bút, Nguyễn Minh Châu cũng kiên quyết buộc người nghệ sĩ phải có tinh thần trách nhiệm cao và bản lĩnh nghệ thuật. Tại sao trong những thời kì dù phải bạt mình đi để che chắn, vẫn có nhiều nhà văn với những tác phẩm lớn có giá trị tồn tại. Không thể chỉ đổ lỗi cho hoàn cảnh vì điểm quyết định chất lượng sáng tác bao giờ cũng nằm ở người sáng tạo. Chính vì vậy, nhà văn nhắc nhở, yêu cầu giới nghệ sĩ phải vì nghiệp văn, mang sứ mệnh của nhà văn hoá: “Chúng ta có nhiệm vụ chăm chút, giữ gìn cho đất nước những cái gì thật lâu đời, bền chặt, mà cũng thật là mỏng manh: tính thật thà, hồn hậu, niềm tin nền phong hoá nhân bản, tính bẽn lẽn cả thẹn của người phụ nữ, ý thức cộng đồng dân tộc tạo nên khí phách anh hùng, lòng trung thực và tính giản dị…” ( Phỏng vấn đầu xuân 1986 của báo Văn nghệ). Với nững quan điểm lí luận có tính chất chỉ đường trên đây, Nguyễn Minh Châu đã thực sự khơi dậy ý thức đổi mới nghệ thuật, giúp cho văn nghệ sĩ tích cực nhìn lại mình và hăng say với công việc sáng tạo nghệ thuật hơn, tìm cho mình một động lực chính đáng, có ý nghĩa để cầm bút.
Quan niệm của Nguyễn Minh Châu về mối quan hệ giữa nhà văn và cuộc sống, về cái gọi là hiện thực trong văn học cũng dần chệch bứơc so với quỹ đạo văn học đang vận động trong thời kì văn học sử thi. Và càng về sau, những dấu hiệu đổi mới ấy c&agr 2000 ave;ng rõ rệt. Hiện thực đối với nhà văn không chỉ nằm trong khuôn khổ những thứ được giới hạn, cần ca ngợi mà phải là hiện thực nhiều chiều đang cần được khám phá, thể hiện trên trang văn, cho người đọc có một cái nhìn toàn diện về cuộc sống, về cuộc chiến tranh. Nhà văn không tô hồng cũng không bôi đen quá khứ hay cuộc sống hiện tại, mà quan trọng hơn là làm rõ bộ mặt của nó, để dân tộc ý thức được mình là ai, mình đang ở đâu trong thế giới đầy phức tạp, luôn biến chuyển và luôn đòi hỏi sự phát triển, tiến bộ không ngừng này. Điểm quan trọng đáng ghi nhận ở nhà văn là ông đặt mối quan hệ giữa văn học và đời sống trên nền tảng tinh thần nhân bản khá vững chắc: “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” (Phỏng vấn đầu xuân năm 1986 của báo Văn nghệ).
Trên đây, chúng tôi trình bày về vai trò mở đường của Nguyễn Minh Châu ở bình diện lí luận. Nhưng lí thuyết sẽ chỉ dừng lại là sự khô cứng, khó thuyết phục nếu nó chỉ là những lời đao to búa lớn, không được thực tế chứng minh. Một con người thâm trầm, sâu sắc như Nguyễn Minh Châu không bao giờ để điều đó xảy ra. Ông hiện thực hoá những quan điểm của mình qua những sáng tác song song với nó, thậm chí những tác phẩm của ông (tiểu thuyết, truyện ngắn) còn đóng vai trò tiên phong, mở đường cho những quan niệm nghệ thuật được phát biểu. Như trên đã nói, ngay trong những sáng tác thuộc thời kì văn học sử thi, ngừơi đọc đã nhận ra một Nguyễn Minh Châu với những dấu hiệu bắt đầu của một sự khám phá, tìm tòi “mặt khác” của cái hiện thực hào hùng, đầy oanh liệt của cuộc chiến tranh cứu nứơc vĩ đại. Nhà văn nhận ra cuộc sống nghèo khó lam lũ của người dân trên mảnh đất quê hương, ngòi bút của ông đôi khi cũng chạm vào cái lôgic thực sự nghiệt ngã của chiến tranh làm rung lên những bi kịch thật sự của cuộc đời người lính. Ông nhận ra trong trái tim những người mẹ, người vợ ở lại hậu phương không chỉ có niềm tự hào, niềm hi vọng mà còn chất chứa bao đắng cay, chua xót, trong ý nghĩ của người lính ra trận không chỉ nguyên vẹn niềm khát khao chiến thắng…Những khám phá ấy là cơ sở để nhà văn đặt bước chân vững chãi trên vị trí mở đường sau này của mình với hàng loạt sáng tác có giá trị. Khi truyện ngắn Bức tranh ra đời, giới phê bình cảm thấy bước ngoặt tất yếu sẽ diễn ra trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu. Nhà văn đã thực sự hướng tới một cái nhìn toàn vẹn, đa chiều về con người, khám phá cái thế giới bên trong đầy ẩn ức, lật xới cả những đáy sâu tiềm thức, tâm linh của con người. Cái mới ban đầu bao giờ cũng khó được chấp nhận. Chính vì thế mà những truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu thực sự gây ra những tranh cãi khó thống nhất, và ngay lập tức, những giá trị của trang văn ông cũng chưa có một chỗ đứng thích đáng. Nhưng những tranh cãi đó làm cho những người có ý thức tự vấn tự nhìn lại mình, và cảm thấy cần phải có một sự thay đổi, không thể mãi theo lối viết một chiều hời hợt như trước được nữa. Một Nguyễn Minh Châu mới, khác xa với Nguyễn Minh Châu của thời Dấu chân người lính đã mở đường cho những đổi mới của văn học ngay khi mà công cuộc đổi mới chưa thực sự diễn ra. Sau Bức tranh, hàng loạt tác phẩm như Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê, Hương và Phai, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, Sống mãi với cây xanh, Mảnh đất tình yêu… là sự đối chứng của nhà văn với chính mình, với cả một thế hệ nhà văn đương thời. Quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn đã thực sự đảo lộn, nhân vật là phương tiện để nhà văn nhìn lại, khám phá những quy luật nhân sinh. Thái độ dân chủ, cởi mở, dũng cảm ấy đã khuyến khích bao nhà văn dấn bước. Phải nói răng, với tâm lí con người nhiều khi không đủ dũng khí làm người tiên phong nhưng dám tiếp bước và tiếp bước trong sự phát triển thì vai trò đặt những viên gạch móng đầu tiên của Nguyễn Minh Châu là vô cùng quan trọng. Có thể thấy những sáng tác của nhà văn cùng với Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn… đã đốt lên nhiệt tình tìm kiếm chân lí, báo trước khả năng tự đổi mới của nền văn học Việt Nam khi nó dám sòng phẳng với quá khứ, bất chấp mọi trở lực cản ngăn. Càng khẳng định được vai trò này khi những vấn đề được Nguyễn Minh Châu khơi gợi, bước đầu đổi mới trong sáng tác của mình (con người, chiến tranh, cuộc sống…) về sau n&agr 2000 ave;y ngày càng được mở rộng, khơi sâu, và điều quan trọng hơn là chính những điều đó làm thế giới biết đến một Việt Nam, hiểu hơn về Việt Nam, và cảm thấy ở dân tộc ta có điều gì đó gần gũi hơn qua những trang văn của thời kì công khai, dân chủ, đổi mới.
Trong sáng tác, không chỉ ở bình diện nội dung mà ở nghệ thuật tự sự, nghệ thuật trần thuật, đóng góp của Nguyễn Minh Châu là không nhỏ. Nhà văn xây dựng những nhân vật thế sự, nhân vật tư tưởng và nhân vật tính cách - số phận. Nhân vật của ông không nắm giữ chức năng là điển hình hoá cho một loại người, một lớp người nào đó mà nhiều khi chỉ là sự thể hiện một tư tưởng, một ý thức, nhiều nhân vật được Nguyễn Minh Châu thể hiện như một dạng tồn tại, một hình thái đời sống, con người như là một nhân cách. Chính bởi vậy mà nhân vật của Nguyễn Minh Châu nhiều khi bị cho là dị biệt, không thực: Quy trong Mảnh đất tình yêu, Quỳ trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, bác Thông trong Sống mãi với cây xanh…là những nhân vật không trùng khít với chính nó với những quy luật rất phức tạp bên trong đời sống nội tâm của con người mà đôi khi chính con người cũng không thể ngờ tới được. Nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Minh Châu cũng cố nhiều tìm tòi, quan trọng là ở sự nới lỏng cốt truyện, đan xen, chảy tràn của mạch suy tưởng, triết lí, mạch kể, mạch tả. Sự thay đổi điểm nhìn trần thuật cũng là một đóng góp mới của Nguyễn Minh Châu, chấm dứt thời kì mà điểm nhìn trần thuật chỉ được giao vào một nhân vật với cái nhìn phiến diện. Cuộc sống hiện lên qua tác phẩm của ông chân thực và toàn diện hơn rất nhiều nhờ kĩ thuật trần thuật này. Thủ pháp này được rất nhiều nhà văn sau Nguyễn Minh Châu sử dụng thành công như một kĩ thuật tạo nên tính đa thanh, phức điệu, tăng dung lượng và dồn nén cốt truyện truyện ngắn cũng như tiểu thuyết.
Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Minh Châu được đánh giá là người mở đường tài năng và đầy sáng tạo. Những thay đổi trên nhiều bình diện sáng tác của ông, nhuần nhuyễn từ ý thức nghệ thuật đến sáng tác, luôn luôn là tấm gương mẫu mực về sáng tạo của người nghệ sĩ chân chính. Ông đổi mới ngay từ khi công cuộc đổi mới chưa bắt đầu, bởi vây, lịch sử văn học đã đặt lên vai ông vai trò của người mở đầu đầy khó khăn nhưng cũng rất đáng tự hào.
Chúng ta thực sự ghi nhận những thành tựu mà luồng gió đổi mới mang lại cho văn học Việt Nam. Bởi nếu không có nó, những quan niệm cùng sáng tác của Nguyễn Minh Châu sẽ không được xem xét một cách công bằng, dân chủ, đầy đủ và chính xác. Thành công của Nguyễn Minh Châu có được là nhờ sự gặp gỡ giữa những trăn trở, nhiệt huyết đầy trách nhiệm, cảm quan nghệ thuật nhạy bén và thời đại giải phóng cho cá tính sáng tạo. Sáng tác của ông mãi là niềm tự hào của người cầm bút mai sau, để cho độc giả và các thế hệ nhà văn học tập, đưa văn học Việt Nam, dân tộc Việt Nam sánh bước với nhân loại tiến bộ.