Trước hết, dấu ấn nhà báo Thanh Phương (đang công tác tại Báo Công lý) thể hiện rõ qua hơi thở đương đại và tinh thần phản biện xã hội.
Thơ anh quan tâm đến những vấn đề nóng của đời sống, từ môi trường, quyền lực đến đạo đức xã hội. Anh phê phán thẳng thắn thói tham quyền, nịnh hót, giả dối, lối sống bè phái và sự đánh tráo giá trị. Giọng thơ sắc sảo, trực diện, không né tránh, cho thấy một cái nhìn tỉnh táo và giàu trách nhiệm.

Hai điểm đáng chú ý của Hoa ngắm tôi, Trăng vẽ tôi là thể thơ và ngôn ngữ. Phạm Thanh Phương có phần “tham lam” khi biến tập thơ này thành một bức tranh đa dạng và phong phú của thể thơ. Độc giả có thể viễn du với thể thơ từ ba - bảy chữ, lục bát, tự do, hỗn hợp, thơ cũ và mới, thơ truyền thống và thơ hiện đại.
Ở đó, những câu thơ thất ngôn tạo ra không khí “hoài cổ”, có khả năng đưa người đọc xuyên không về miền liêu trai: “Thuyền hoa nhẹ lướt nắng hòa sương/ Cảnh tiên giăng mắc mối tơ vương/ Chạm mộng, đôi má thêm ửng đỏ/ Tay ấm tay nhau hẹn bái đường” (“Lạc Kim Sơn”). Đặt cạnh “tâm điệu dĩ vãng” này là những vần thơ tự do, không theo khuôn khổ, chuyên chở các tầng nghĩa sâu xa dưới từng con chữ.
Một số bài điển hình có “Lăn anh”, “Và chúng mình lại tập yêu nhau”, “Rửa tội”, “Thêm lần nữa”,... Điều đó cho thấy, về mặt thi pháp, Phạm Thanh Phương không tự chôn chân mình ở địa hạt cổ điển mà có sự hòa nhịp với đời sống thơ ca đương đại.
Tuy nhiên, anh không phải gã xu thời “đu trend”, gồng mình “trang điểm” cho thơ những tấm áo mĩ miều tân hình thức, hậu hiện đại,… Sự hiện diện của những bài thơ tự do, giàu sức gợi là minh chứng cho hơi thở thực tại của Phạm Thanh Phương. Sự đầu tư của anh có lẽ dồn lực cho những hình ảnh thơ giản dị, dễ hiểu.
Về căn bản, Hoa ngắm tôi, Trăng vẽ tôi không đánh đố về nghĩa, không làm dáng kiểu cách mà chất phác, tự nhiên tiếp cận người yêu thơ. Lựa chọn thể thơ cho thấy sắc điệu, khuynh hướng chiếm ưu thế trong tập thơ là nỗi niềm truyền thống, tâm cảm xưa cũ của Phạm Thanh Phương.
Anh yêu thích thể thơ lục bát, để nó tuôn trào dào dạt trên trang viết, hòa quyện vào xúc cảm chân thành. Lục bát đã trở thành sợi chỉ xuyên suốt kết nối tâm tình của thi nhân từ xưa đến nay, từ cổ kính đến hiện đại. Nói vậy, không có nghĩa thơ lục bát của Phạm Thanh Phương bị ghìm chặt ở quá vãng mà anh có ý thức tự làm mới bằng tứ thơ, hình ảnh, tỉ dụ, ngôn ngữ,...
Độc giả sẽ cảm thấy thi vị khi ngâm đọc những câu kiểu như: “Trăng phơi trọn tấm lưng trần/ Miếng đêm rủng rỉnh mấy lần mơ hoang” (“Cạn thu rồi đấy”), “Ta tàn tro hóa mênh mông/ Trăng suông cố gọi dòng sông lỡ thì” (“Phía sau”), “Trăng non như chiếc gai khều/ Lể ta khuất bóng nhẹ hều không ta” (“Lời đá”), “Ngáo đời bong bóng chửa hoang/ Họ hàng ếch, nhái cũng toan chức quyền” (“Mưa trăng trối”),...
Một điểm đáng chú ý khác trong Hoa ngắm tôi, Trăng vẽ tôi chính là sự phóng khoáng đôi khi đến tùy tiện về thể thơ: vận luật không chỉnh, niêm luật không nghiêm. Độc giả không khó để nhận ra hiện tượng này, nhiều nhất trong lục bát, sau đến các bài thơ bảy chữ.
Đơn cử như “Tiếc”, “Cô đơn”, “Tình câm”, “Áo hồng em đi lễ chùa”,... Ngay trong hai câu đầu của bài thơ chủ đề “Trăng vẽ tôi” đã cho thấy sự cong vênh của vần: “Lá vàng hứng lấy mắt tôi/ Đương rơi xuống những nỗi buồn vu vơ”. Có lúc tác giả trộn lẫn các thể thơ một cách ngẫu hứng đến mức khiêu khích.
Chẳng hạn, tác giả kết hợp thơ bảy chữ với lục bát trong bài “Mũi đan lạnh”, thơ tự do và lục bát trong bài “Giấc mơ thông cỗi”, thơ bốn chữ và thơ năm chữ trong bài “Thời khắc”,… Cách dùng vần, luật hay trộn lẫn thể thơ như vậy thể hiện một hồn thơ dào dạt, chú trọng cảm xúc đến mức thiếu kiềm chế, dẫn đến các làn sóng tình cảm xô lệch quy chuẩn thơ ca.
Trong khi đó, về mặt ngôn ngữ, thi tập này có một điểm rất thú vị: Phạm Thanh Phương có khả năng sử dụng một số từ ít gặp trong thơ khá mượt mà, và qua đó, mở rộng biên độ ý nghĩa và cảm xúc cho thơ.
Trong hành trình đọc Hoa ngắm tôi, Trăng vẽ tôi, thỉnh thoảng độc giả bắt gặp những từ như “bung biêng”, “lểnh lảng”, “chung chiêng”, “lềnh phềnh”,... đã được tác giả xử lí một cách khéo léo để tạo ra những câu thơ kiểu như “Ta như khế rụng góc vườn/ Cái nhìn lểnh lảng vội trườn lợt thu!” (“Lểnh lảng”).
Tính từ “lểnh lảng” (theo nghĩa nhiều nước, loãng hay nhạt nhẽo, vô vị) tạo ra điểm nhấn đặc biệt, giúp tác giả mở rộng trường nghĩa và trường so sánh cho câu thơ. Tính từ này kết hợp với động từ “trườn” và tính từ “lợt” khiến cho câu thơ kích thích trí tưởng tượng và trò chơi động não tìm nghĩa nơi người đọc.
Vén màn chữ nghĩa, người đọc sẽ thấy được cái nhìn của thi nhân đã tan loãng đến nhạt thếch một cách vội vã, bò trườn vào mùa thu nhợt nhạt. Cách dùng từ như vậy thực sự đã giúp Phạm Thanh Phương tạo ra những hình ảnh thơ độc lạ, giàu cảm xúc: “Tạ từ chếnh choáng tháng giêng/ Tôi cùng hương đất chung chiêng lên ngồng!” (“Trăng vẽ tôi”).
Thi sĩ từ biệt mùa xuân đang ngùn ngụt men say, hóa mình thành thân ngồng ngậm nụ, được tiếp sức bởi hương đất để ngả nghiêng chuẩn bị đơm hoa. Câu lục bát như đang vận động và chảy trôi trong men, trong hương, lan tràn giữa trời giêng non và mặt đất mênh mang, dẫn lối độc giả vào cõi tưởng tượng khôn cùng.
Cũng cần phải đề cập rằng, trong cách dụng ngữ, đôi lúc nhà thơ không tránh khỏi sự lặp lại chính mình, như việc lạm dụng các từ “lẹm”, “lên ngồng”, “suông”, “thậm thình”,…
Thậm chí, nhà thơ phó mặc xúc cảm tung hoành khiến đôi chỗ có cảm giác vụng dại, dẫn đến một số ý thơ chưa đạt trạng thái trang nhã, chẳng hạn: “Đàn ông luôn là đứa trẻ/ Giả vờ lớn tướng lên thôi/ Đương nhiên, chuyện mình là nhất/ Vô tâm đủ thứ trên đời” (“Giải trình”).
Với những chiêm nghiệm và tấm lòng thiện lành ấy, thơ của Phạm Thanh Phương sẽ còn vận động để tiếp tục làm mới mình, kiến tạo những chân trời xúc cảm khác lạ, bước ra khỏi mọi chiều cạnh để đem đến cho độc giả những trải nghiệm đọc riêng.
Link nội dung: https://superkids.edu.vn/ngam-trang-the-tho-a44227.html