Tho Luc Bat

Kính gửi BBT lucbat.com!

Tôi là Phạm Đan Quế, tác giả một số sách viết về Truyện Kiều, trong đó có quyển Truyện Kiều đọc ngược với 3.254 câu Kiều xếp ngược từ câu cuối lên câu đầu tiên của Truyện Kiều. Tôi đã có những nghiên cứu đầu tiên về Thơ lục bát thuận nghịch độc. Nay xin gửi tới các bạn yêu thơ lục bát một loại hình thơ mới để các bạn cùng làm quen và chia sẻ. Đây là một loại thơ có thể chứng minh tính độc đáo và kỳ diệu của ngôn ngữ Việt. Nay xin gửi tới BBT để đưa lên Lucbat.com và mong loại thơ độc đáo này của Việt <?xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" />Nam sẽ phát triển thêm trong tương lai.

Kính thư!

<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" />

Thơ thuận nghịch độc đã có ở Việt Nam từ trước năm 1720 với Tiến sĩ Nguyễn Quý Đức (1648-1720), người xã Đại Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội, trong bài Vịnh Chùa Trấn Quốc. Sau đó là Nguyễn Huy Lượng (? - 1808) với bài Cảnh Tây Hồ, Phạm Thái (1777-1813) với bài Đề mỹ nhân đồ, Tự Đức (1829-1883) với bài Xuân hứng…

Đến những năm bảy mươi của thế kỷ 20 mới chỉ tìm được 15 bài, tất cả đều là thơ thất ngôn bát cú thuận nghịch độc. Có thể các nhà nho xưa vốn sành và rất giỏi về thơ cũng có nhiều người làm loại thơ này nhưng tài liệu hiện còn không thấy ghi lại.

Thơ thuận nghịch đôc rất khó làm vì phải viết được những câu thơ đọc xuôi, đọc ngược đều thành câu, đúng luật, đúng vần và trọn nghĩa. Chỉ những nhà nho có tài dụng công tiểu sảo mới làm nổi. Các nhà thơ thuộc lớp tân học ít ai làm và cũng không thích làm loại thơ này. Trong Phong trào thơ mới, cũng chỉ có thi sĩ Hàn Mặc Tử khi đi vào thơ Đường luật đã làm hai bài thất ngôn bát cú là bài Đi thuyền và Cửa sổ đêm khuya (Thơ lục chuyển).

Khi chuẩn bị cho ra mắt quyển Truyện Kiều đọc ngược, chúng tôi đã để ý đến thơ thuận nghịch độc và bước đầu thử nghiệm một số bài thơ lục bát, song thất lục bát và giới thiệu trên tạp chí Thế giới mới. Tuy không hay làm thơ nhưng trong nghiên cứu chúng tôi có viết một số bài thơ thuận nghịch độc theo các thể loại khác nhau. Trong giao lưu với các bạn thơ, chúng tôi đã nêu thành những công thức cụ thể của từng loại.

Trong bài này chỉ xin giới thiệu sau đây ba loại thơ lục bát thuận nghịch độc với quy cách làm cụ thể và những thí dụ minh họa.

1. THƠ LỤC BÁT THUẬN NGHỊCH ĐỘC THEO TỪNG KHỔ

Thơ lục bát thuận nghịch độc vừa phải luật thơ lục bát lại phải có khả năng đọc ngược, ta hãy xét 2 câu:

TRIỀU DÂNG

Ngàn mây vạc lướt xiêu xiêu

Triều dâng vang tiếng gác chèo sương tan

Đọc ngược từng chữ câu thứ nhất rồi đến câu thứ hai:

Xiêu xiêu lướt vạc mây ngàn

Tan sương chèo gác tiếng vang dâng triều

(Tạp chí Thế giới mới số 704)

Qua bài này ta thấy về luật, hai câu lục bát phải như sau:

B, T là bằng (B), trắc (T) bắt buộc, những chữ B có số ở sau (B1, B2) là những chữ phải cùng vần theo nhóm. Riêng câu bát, chữ B2 và B1 ở đầu câu tuy cùng bằng không cùng vần nhưng không được cùng một thanh (chữ này dấu huyền thì chữ kia không dấu và ngược lại - tan và chèo). Giữa chữ B1 và B2 ở cuối câu cũng vậy, cùng bằng nhưng không được cùng một thanh (vang và triều). Nhìn bảng trên, về hình thức ta thấy khá đối xứng, 2 chữ trắc ở giữa cả 2 câu, còn lại toàn vần bằng

Thơ lục bát thuận nghịch độc thường phải có vài ba khổ để nêu được đủ ý của mình. Trường hợp này các khổ thơ phải nối vần được với nhau, sau đây là một thí dụ (Những câu thơ đọc ngược in bằng chữ nghiêng):

TRĂNG THU TÂY HỒ

Phạm Đan Quế

1. Chờ trăng gió lộng Hồ Tây

Đầy vơi thơ thẩn khách say trăng mờ

Tây Hồ lộng gió trăng chờ

Mờ trăng say khách thẩn thơ vơi đầy

2. Sang thu ửng ráng trời mây

Bay trầm vàng ánh tháng ngày quê hương

Mây trời ráng ửng thu sang

Hương quê ngày tháng ánh vàng trầm bay

3. Vui buồn vẫn thuở thơ ngây

Cay chua bùi ngọt... đắm say bao đời

Ngây thơ thuở vẫn buồn vui

Đời bao say đắm... ngọt bùi chua cay

4. Quang mây rực sáng Hồ Tây

Say mê tràn ngập ngất ngây thu vàng

Tây Hồ sáng rực mây quang

Vàng thu ngây ngất ngập tràn mê say...

...Chờ trăng gió lộng Hồ Tây

Đầy vơi thơ thẩn khách say trăng mờ...

(Tạp chí Thế giới mới số 714)

HƯƠNG QUÊ

(Lục bát thuận nghịch độc theo từng khổ thơ)

Đầy vơi nhớ tiếc mênh mông

Trông vời ngày tháng nhớ mong mai rày

Mông mênh tiếc nhớ vơi đầy

Rày mai mong nhớ tháng ngày vời trông

Đời xuân trả nợ tơ lòng

Mong chờ sùi sụt ngóng trông ngùi ngùi

Lòng tơ nợ trả xuân đời

Ngùi ngùi trông ngóng sụt sùi chờ mong

Trời mây trải rộng quê hương

Trường xuân tươi thắm chiếu gương ngời ngời

Hương quê rộng trải mây trời

Ngời ngời gương chiếu thắm tươi xuân trường

Ngày ngày tháng tháng yêu thương

Trường canh ngây ngất vấn vương đêm ngày

Thương yêu tháng tháng ngày ngày

Ngày đêm vương vấn ngất ngây canh trường

(Tạp chí Thế giới mới số 710)

********

2. THƠ LỤC BÁT TẢ HỮU THUẬN NGHỊCH ĐỘC

Thơ lục bát tả hữu thuận nghịch độc vừa phải theo đúng luật thơ lục bát lại phải có thể đọc ngược từng câu từ trái sang phải và từ phải sang trái. Ta hãy xét bài thơ sau đây:

PHÚC LỘC XUÂN

Xuân sang lộc phúc chan hòa

Lời trao nhân nghĩa nở hoa ân tình

Người xa mộng ước hương quỳnh

Mây hồng ngời rạng bóng hình

quê hương

Say mê ước hẹn yêu thương

Đài hoa ngây ngất quyện hương Tây Hồ

Mai vàng dãi nắng mong chờ

Đào hoa lơi lả cợt đùa hương xuân

ĐỌC NGƯỢC TỪNG CÂU

Hòa chan phúc lộc sang xuân

Tình ân hoa nở nghĩa nhân trao lời

Quỳnh hương mộng ước xa người

Hương quê hình bóng rạng ngời

hồng mây

Thương yêu hẹn ước mê say

Hồ Tây hương quyện ngất ngây hoa đài

Chờ mong dãi nắng vàng mai

Xuân hương đùa cợt lả lơi hoa đào

(T/cThế giới mới số 723, Xuân Đinh Hợi)

Có thể đọc tiếp bài thơ đọc ngược này

(Phải sang trái, trên xuống dưới).

Qua bài này ta thấy về luật, hai câu lục bát phải như sau:

B, T là bằng (B), trắc (T) bắt buộc, những chữ B có số ở sau (B1, B2…) là những chữ phải cùng vần theo nhóm. B3, B4… cùng vần với những chữ đầu và cuối hai câu lục bát tiếp theo (Tức câu 3 và 4). Riêng câu bát, chữ B3, B1… ở đầu câu hay B2, B4… ở cuối câu tuy cùng bằng không cùng vần nhưng không được cùng một thanh (chữ này dấu huyền thì chữ kia không dấu và ngược lại - hoa và tình…). Nhìn bảng trên, về hình thức ta thấy khá đối xứng, 2 chữ trắc T ở giữa các câu, còn lại toàn vần bằng B.

Thơ lục bát thuận nghịch độc thường phải có vài ba khổ để nêu được đủ ý của mình, các khổ thơ phải nối vần được với nhau như thí dụ ở trên.

***

CHIỀU HỒ TÂY

(Lục bát tả hữu thuận nghịch độc)

Hồ Tây sóng vỗ xa khơi

Chèo ai lơ lửng nổi trôi mây ngàn

Chiều thu vẳng tiếng hò khoan

Hương thơm ngào ngạt chứa chan

men nồng

Sương giăng trải rộng mênh mông

Mờ trăng hương khói thuỷ chung ân tình

Mưa rơi biển sóng bồng bềnh

Đầy vơi hờ hững bóng hình ngây thơ

TÂY HỒ CHIỀU

(Đọc ngược)

Khơi xa vỗ sóng Tây Hồ

Ngàn mây trôi nổi lửng lơ ai chèo

Khoan hò tiếng vẳng thu chiều

Nồng men chan chứa ngạt ngào

thơm hương

Mông mênh rộng trải giăng sương

Tình ân chung thuỷ khói hương trăng mờ

Bềnh bồng sóng biển rơi mưa

Thơ ngây hình bóng hững hờ đầy vơi

(Tạp chí Thế giới mới số 726)

********

3. THƠ LỤC BÁT THUẬN NGHỊCH ĐỘC THEO ĐÚNG NGHĨA

Thơ lục bát thuận nghịch độc theo đúng nghĩa - tức là đọc từ đầu đến cuối bài rồi lại đọc từ cuối trở lên thì có hai cách:

A- Bài lục bát có số câu thơ lẻ kết thúc bằng câu lục để có thể đọc ngược từng câu từ cuối trở lên đầu theo công thức:

MƯA RƠI

Mưa rơi lạnh vắng xa người

Thờ thẫn thương nhớ cảm hoài

trào dâng

Trường canh gió thoảng lâng lâng

Hương quê gìn giữ núi rừng mông mênh

Duyên tơ đượm thắm hương quỳnh

Thêm say chiều sớm bóng hình chờ trông

Yêu thương mãi nguyện thủy chung

ĐỌC NGƯỢC

Chung thủy nguyện mãi thương yêu

Trông chờ hình bóng sớm chiều

say thêm

Quỳnh hương thắm đượm tơ duyên

Mênh mông rừng núi giữ gìn quê hương

Lâng lâng thoảng gió canh trường

Dâng trào hoài cảm nhớ thương thẫn thờ

Người xa vắng lạnh rơi mưa

B- Bài lục bát có số câu thơ chẵn thì câu bát cuối phải cắt ra 6 chữ thành câu lục, 2 chữ còn lại được nối liền với 6 chữ của câu lục thành câu bát… - thì không thể theo đúng luật bằng trắc thông thường mà phải dùng biến thể và công thức của một bài thơ lục bát thuận nghịch độc có thể sẽ như sau:

Cũng có thể một số chữ có thay đổi chút ít, nhưng những chữ cùng vần bằng là bắt buộc. Xin nêu ở đây một thí dụ, dấu - trong câu bát là để ngắt ra câu lục khi đọc ngược:

XUÂN TÌNH MỘNG

Ngời sắc xuân liễu thướt tha

Hò hẹn - thân lẻ dáng hoa tím chiều

Trăn trở hình bóng dấu yêu

Tha thiết - tình mộng ước trào ý dâng

Canh thâu ngời rạng ánh dương

Đào hoa - lơi lả khói sương mơ chiều

ĐỌC NGƯỢC

Chiều mơ sương khói lả lơi

Hoa đào dương ánh rạng ngời thâu canh

Dâng ý trào ước mộng tình

Thiết tha yêu dấu dáng hình trở trăn

Chiều tím hoa bóng lẻ thân

Hẹn hò tha thướt liễu xuân sắc ngời

********

4. THƠ LỤC BÁT CHUYỂN THÀNH THẤT NGÔN BÁT CÚ

Xin giới thiệu sau đây là bài thơ lục bát độc đáo của chúng tôi có thể chuyển thành thất ngôn bát cú :

CHÈO BẾN LẠNH

Bến bờ quen lạ thẳm xa

Nhặt khoan sóng nổi trôi hoa giọng hò

Sông xanh sương khói lững lờ

Hương thơm biển sáng

ngọc ngà mới dâng

Mộng tình dáng liễu gió sương

Bóng chèo gầy đẩy mái buông chiều tà

Mênh mông lơi lả đợi chờ

Chứa chan lạnh vắng mịt mờ xứ xa.

CHUYỂN THÀNH THẤT NGÔN BÁT CÚ

Quen lạ giọng bờ bến thẳm xa

Nhặt khoan hò sóng nổi trôi hoa

Sông xanh dâng hững hờ sương khói

Biển sáng hương thơm

mới ngọc ngà

Tình mộng gió sương gầy dáng liễu

Bóng buông chèo mái đẩy chiều tà

Mênh mông vắng đợi chờ lơi lả

Chan chứa lạnh mờ mịt xứ xa

PHẠM ĐAN QUẾ

(Email: phamdanque@yahoo.com.vn)

Link nội dung: https://superkids.edu.vn/tho-luc-bat-2-cau-a44328.html