
1. Năm 2012, tại một cuộc tọa đàm nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh đồng chí Xuân Thủy, tôi đã viết tham luận “Xuân Thủy - nhà ngoại giao đậm chất văn hóa”. Bài viết mở đầu như sau:
“Ngoại giao nước ta thời đại Hồ Chí Minh, nhất là thời kỳ chống Mỹ cứu nước, thật sự rạng rỡ bởi những khuôn mặt sáng chói, lớp học trò của Bác Hồ được đào luyện theo tư tưởng và phong cách ngoại giao của Người. Xuân Thủy là một trong những gương mặt ấy.
Khi được cử làm Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris về Việt Nam, Xuân Thủy được biết đến không chỉ là một chiến sĩ cách mạng kiên cường, một nhà lãnh đạo chính trị uyên bác, mà còn là một nhà thơ, nhà báo, nhà văn hóa tài ba”.
Minh chứng tôi đưa ra không phải là những luận điểm chính trị đề cập đến tài năng, bản lĩnh và thành công của ông, mà chỉ là một vài mẩu chuyện cụ thể, sống động, bình dị, sâu lắng.
2. Thời kỳ ấy, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã đến đỉnh cao và lừng danh bốn biển. Hình ảnh dân tộc Việt Nam là hình ảnh của một dân tộc dám đánh và dám thắng một đế quốc lớn. Tuy nhiên, do những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch, “Cộng sản Bắc Việt” và “Việt Cộng” bị coi là những con người “hiếu chiến”, “lạnh lùng như sắt đá”, chỉ biết lý tưởng mà không có tình cảm. Thế nhưng, ngay từ ngày đầu đặt chân đến Paris vào tháng 5-1968, Xuân Thủy đã tạo nên một cú sốc lớn trong công luận ở thủ đô Paris hoa lệ.
Ông Nguyễn Minh Vỹ, nguyên Phó trưởng Đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris kể lại: “Bữa anh Xuân Thủy đến Hội nghị Paris, báo chí quốc tế đăng tin: Ông Bộ trưởng Xuân Thủy cười, và trên các tờ báo lớn, họ đều đăng ảnh “nụ cười của ông Xuân Thủy”. Và, trong quá trình gần 5 năm đàm phán của Hội nghị Paris, ông Xuân Thủy vẫn đủng đỉnh, tủm tỉm cười thế này thế khác. Nhưng hôm nào ông Xuân Thủy không cười thì báo đăng ngay: “Hôm nay, ông Xuân Thủy đến Hội nghị không cười”.
Ông Vỹ bình luận thêm: “Quả thật Xuân Thủy có cái tài cười, giỏi cười, cười đẹp, có duyên! Không phải là cười “ngoại giao”, gượng gạo mà cười tự nhiên, ung dung, đứng đắn, có ý nghĩa sâu sắc bên trong, cái cười ẩn chứa nhiều điều mà lời nói không thể diễn tả hết được! Nụ cười của Xuân Thủy gắn với gương mặt anh, gắn với toàn bộ con người anh, nụ cười đã gây ấn tượng rất sâu, làm cho nhiều người mới tiếp xúc lần đầu có cảm tình ngay, thấy đó là một con người chân thành, trung thực, trung hậu, dễ gần, dễ mến, không làm cho người ta e ngại mà lôi cuốn người ta, làm cho người ta cảm tình, tin tưởng. Chỉ cái cười ấy thôi đã thuyết phục mọi người, trước tiên là các báo thuộc mọi xu hướng ở thủ đô Paris hoa lệ nổi tiếng là hiếu khách nhưng không phải là không kén khách! Nụ cười đó thật ra không phải là của cá nhân Xuân Thủy, mà là nụ cười của cả dân tộc Việt Nam, của nhân dân Việt Nam, khiến cho người dân Paris khó tính nhưng rất có tình người, tự đặt câu hỏi cho mình: “Phải chịu đựng bao nhiêu đau khổ vì chiến tranh, làm sao người Việt Nam còn cười được?”.
3. Nói đến Xuân Thủy, không thể không nhắc đến tài năng thơ của ông.
Tháng 11-1968, sau khi Hội nghị Paris kết thức giai đoạn 1 (giai đoạn đàm phán giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ bàn về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam và Hoa Kỳ chấp nhận chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc), trong bài thơ “Vui còn vui nữa”, Xuân Thủy có mấy câu tâm huyết:
“Tôi tự Pa-ri nói vọng vềNỗi mừng khôn xiết kể, say mêAi hôn thân thiết, hôn ai nhỉ?Hôn khắp năm châu, khắp bạn bè!
Trường xuân âu yếm giải sông XenNhư ghé bên tai giọng đã quenGiữa buổi thu sang xuân lại tớiAnh ơi! hiểu nhé, tấm lòng emEm biết anh đi mới nửa đườngNửa đường còn lại lắm phong sươngNhưng em đã chắc ngày sum họpNắng ấm trời Nam tỏa bốn phương!”
Từ Hà Nội, nhà thơ Sóng Hồng (tức Trường Chinh) có mấy câu tặng Xuân Thủy như sau:
“Mỗi tuần một trận đấu gay goSáu tháng chưa xong một ván cờGiữ vững phương châm giành thắng lợiUng dung anh vẫn dạo vườn thơ!”.
Chao ôi! “Vườn thơ” của Xuân Thủy đầy hương sắc, đẹp và thơm biết mấy! “Vườn thơ” ấy, không phải đến Hội nghị Paris mới nở rộ, mà đã “đơm hoa, kết trái” từ những ngày ông còn bị giam cầm trong nhà tù đế quốc, như nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội):
“Đế quốc tù ta ta chẳng tùTa còn bộ óc, ta không loGiam người, khóa cả chân tay lạiChẳng thể ngăn ta nghĩ tự doCó lúc ngươi toan đánh bể đầuĐầu ta không bể sống càng lâuSống lâu ta nghĩ trăm nghìn kếNghĩ kế đưa ngươi xuống vực sâu...”(“Không giam được trí óc” - 1938)
Hay nhà tù Sơn La:
“Tường vây canh gác bốn bềMà xuân vẫn cứ đi về với xuânNon cao, trời đục, mây vầnMà trong ngục vẫn trắng ngần hoa mai”(“Xuân trong tù”, năm 1943)
Chủ nghĩa lạc quan cách mạng của Xuân Thủy còn thể hiện trong những lời thơ châm biếm kẻ địch, nhẹ nhàng về hình thức nhưng sắc sảo về nội dung, bóc trần cả cái xấu xa, tàn bạo của chúng:
“Đời ta nghĩ cũng lạ đờiLàm chi hôm sớm có người chăm loMùa đông sẵn có hỏa lòMùa hè nhà đá tha hồ nghỉ ngơiĐi đâu có Pháp đi bồiỞ đâu có lính gác ngoài mái hiênMặc thì Nhà nước ban khenÁo quần nền trắng hoa đen lạ kỳĂn thì chẳng thiếu thức chiGân bò, mắm ớt, lại khi mề gà(1)Chơi thì nức tiếng gần xaTàu bay, tàu thủy lại pha tàu ngầm”(2)(“Trong nhà tù” - 1939)
Năm 1941, các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm ở nhà tù Sơn La đã ra tờ báo Suối reo, do Xuân Thủy làm chủ bút, lưu hành trong nội bộ, vừa để tố cáo tội ác giặc, vừa đề cao khí tiết và niềm tin của người cách mạng, với những vần thơ lạc quan (của Xuân Thủy) như sau:
“Thu sang hoa cỏ già rồiSuối reo lên để cho đời trẻ trungThu sang non nước lạnh lùngSuối reo lên để cho lòng ta reo”(“Đề báo Suối reo” - 1941)
“Đảng ta từ thuở ra đờiBao phen máu đỏ vẫn ngời lòng sonSơn La những núi cùng nonDù cho đá lở vẫn còn suối reoHôm nay rừng nặng sương chiềuNgày mai nắng sớm lưng đèo nở hoa”(“Ngày mai” - 1942)
Năm 1944, trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, ngay bên bờ sông Hồng, Xuân Thủy viết “Bài ca Việt Minh” tràn đầy hào khí Thăng Long:
“Đồng bào hỡi! Thời cơ đã đến!Tiến lên mau! Hãy tiến lên mau!Diệt thù phía trước phía sauTan thây Nhật - Pháp, nát đầu Việt gianDưới cờ đỏ sao vàng năm cánhHỡi đồng bào sát cánh chen vai!Việt Nam riêng một góc trờiXây nền độc lập, xây đời tự do!”
Cách mạng như một dòng thác lớn tuôn trào. Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tiếp theo là nước nhà hoàn toàn độc lập, tự do, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội vì một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Hòa vào dòng chảy lớn đó, “vườn thơ” ngát hương của Xuân Thủy càng ngát hương hơn.
Ngày 2-9-1982, như có một linh tính, Xuân Thủy đã viết bài thơ tự sự “Mình cười với mình”:
“Tù ngục ba lần không chịu chếtBa lần không chết nạn ô tôBao năm kháng chiến đầy gian khổMà vẫn hiên ngang sống đến giờBảy mươi nào có ai ngờThở lên thở xuống câu thơ vẫn tìnhTình dân, tình Đảng cho minhTình chung đất nước ngọt lành thắm tươi...”
“Thở lên thở xuống” là hàm ý nói về cái bệnh hen suyễn đeo đẳng ông từ lâu, ngay cả những ngày đàm phán ở Paris tôi cũng đã chứng kiến.
Trong bài thơ “Mừng thọ 70 tuổi” viết năm 1982, ông tự nhủ:
“Bảy mươi tuổi chẵn chưa già đâuDù có đau lưng, có bạc đầuNon nước hai vai còn gánh khỏeVì dân, vì Đảng thọ càng lâu”
Và bài thơ cuối cùng ông viết năm 1983 có tiêu đề “Sông Hương”:
“Sông Hương anh vẫn gọi tên emChẳng hỏi tên xưa chẳng gợi phiềnGiặc đến mấy lần em nổi sóngHòa bình, em kể lại thêm duyênEm đẹp hơn xưa, đẹp lạ lùngDa em phẳng mịn, mắt em trongTóc em xanh mướt đôi bờ ấyCó những con đò đứng lặng trôngThời thế em ơi đã đổi thayĐường lên XÃ HỘI vượt thang mâyTa dạo bên nhau, tay nắm tay”
Hơn nửa thế kỷ đã qua (tính từ năm 1968 đến nay) mà ký ức về nụ cười và những vần thơ lạc quan chiến thắng của nhà ngoại giao, nhà thơ Xuân Thủy vẫn hằn sâu trong tâm khảm tôi, một người từng vinh dự được sát cánh cùng ông trên “mặt trận ngoại giao” trong những năm tháng lịch sử ấy.
-(1) Các hình thức tra tấn của mật thám Pháp: Đánh bằng roi gân bò, đổ mắm ớt vào mũi, trói ghì hai cánh tay ra sau gọi là lộn mề gà.(2) Tra điện là “đi tàu bay”; bơm nước vào mồm là “đi tàu thủy”; đấm, thụi là “đi tàu ngầm”.