Tuyển tập thơ Trung Quốc hay: Thơ cổ Trung Hoa thời Đường – Tống
Tuyển tập Thơ cổ trung hoa
Các bài thơ hay Trung Quốc đều do những vĩ nhân viết nên. Văn VN đã tổng hợp những bài thơ kinh điển, được yêu thích nhất:
1/ Quan thư 1 (Khổng tử)
關關雎鳩、 在河之洲。 窈窕淑女、 君子好逑。Quan thư 1 Quan quan thư cưu, Tại hà chi châu. Yểu điệu thục nữ, Quân tử hảo cầu.Dịch nghĩa Đôi chim thư cưu hót hoạ nghe quan quan, Ở trên cồn bên sông. Người phụ nữ yêu kiều Quân tử ưu ái, mếm mộ
2/ Quan thư 2 (Khổng tử)
關雎 2 參差荇菜、 左右流之。 窈窕淑女、 寤寐求之。 求之不得、 寤寐思服。 悠哉悠哉、 輾轉反側。Quan thư 2 Sâm si hạnh thái Tả hữu lưu chi Yểu điệu thục nữ Ngộ mị cầu chi Cầu chi bất đắc Ngộ mỵ tư bặc Du tai, du tai! Triển chuyển phản trắcDịch nghĩa Rau hạnh cọng dài cọng ngắn không đều nhau Phải thuận theo dòng nước sang bên tả bên hữu mà hái Người thục nữ u nhàn ấy Khi thức khi ngủ đều lo cầu cho được nàng. Nếu mà không được Thì khi thức khi ngủ đều tưởng nhớ Tưởng nhớ xa xôi thay, tưởng nhớ xa xôi thay! Vua cứ lăn qua trở lại mãi nằm không yên giấc.
3/ Kính cổ 4 (Khổng tử)
擊鼓 4 死生契闊, 與子成說。 執子之手, 與子偕老。Kích cổ 4 Tử sinh khiết khoát, Dữ tử thành thuyết. Chấp tử chi thủ, Dữ tử giai lão.Dịch nghĩa Chết sống hay xa cách, Đã cùng nàng thành lời thề ước. Ta nắm tay nàng, (Hẹn ước) sẽ sống chung với nhau đến tuổi già.
4/ Ly tao (Khuất Nguyên)
離騷 帝高陽之苗裔兮, 朕皇考曰伯庸; 攝提貞于孟陬兮, 惟庚寅吾以降; 皇覽揆余于初度兮, 肇錫余以嘉名; 名余曰正則兮, 字余曰靈均; 紛吾既有此內美兮, 又重之以修能; 扈江離與辟芷兮, 紉秋蘭以為佩; 汩余若將不及兮, 恐年歲之不吾與; 朝搴阰之木蘭兮, 夕攬洲之宿莽; 日月忽其不淹兮, 春與秋其代序; 惟草木之零落兮, 恐美人之遲暮; 不撫壯而棄穢兮, 何不改乎此度? 乘騏驥以馳騁兮, 來吾導夫先路。 昔三後之純粹兮, 固眾芳之所在; 雜申椒與菌桂兮, 豈維紉夫蕙芷; 彼堯舜之耿介兮, 既遵...
5/ Tĩnh nữ 1 (Khổng tử)
靜女 1 靜女其姝, 俟我於城隅。 愛而不見, 搔首踟躕。Tĩnh nữ 1 Tĩnh nữ kỳ xu, Sĩ ngã ư thành ngu (ngung), Ái nhi bất kiến, Tao thủ trì trù.Dịch nghĩa Người con gái nhàn nhã đẹp đẽ. Hẹn đợi ta ở chỗ góc thành (chỗ hẻo lánh tối tăm). Yêu nàng mà không thấy nàng, Ta gãi đầu và dậ...
Thơ cổ Trung Quốc
Các bài thơ của thời Tống, Chu, Lý, Đường,… và nhiều trời đại khác của Trung Quốc. Tổng hợp giúp bạn có góc nhìn riêng về phong cách thơ ca ngày đó:
1/ Bài thơ tương tư Trung Quốc (Trường Tương Tư)
長相思 長相思, 久離別。 關山阻, 風煙絕。 臺上鏡文銷, 袖中書字滅。 不見君形影, 何曾有歡悅。Trường tương tư Trường tương tư, Cửu ly biệt. Quan san trở, Phong yên tuyệt. Đài thượng kính văn tiêu, Tụ trung thư tự diệt. Bất kiến quân hình ảnh, Hà tằng hữu hoan duyệt.
2/ Tử Khâm 1 (Khổng Tử)
子衿 1 青青子衿, 悠悠我心。 縱我不往, 子寧不嗣音?Tử khâm 1 Thanh thanh tử khâm Du du ngã tâm Túng ngã bất vãng, Tử ninh bất tự âm?Dịch nghĩa Bâu áo của chàng thuần một màu xanh (nhớ chàng, em nhớ cả sắc phục của chàng). Lòng em nhớ nghĩ xa xôi man mác. Nếu em không đến với chàng, Chàng sao lại không có lời viếng thăm em ?
3/ Đào hoa hành (Tào Tuyết Cần)
桃花行 桃花簾外東風軟, 桃花簾內晨妝懶: 簾外桃花簾內人, 人與桃花隔不遠; 東風有意揭簾櫳, 花欲窺人簾不卷。 桃花簾外開仍舊, 簾中人比桃花瘦; 花解憐人花亦愁, 隔簾消息風吹透。 風透簾櫳花滿庭, 庭前春色倍傷情: 閑苔院落門空掩, 斜日欄杆人自憑。 憑欄人向東風泣, 茜裙偷傍桃花立; 桃花桃葉亂紛紛, 花綻新紅葉凝碧。 霧裹煙封一萬株, 烘樓照壁紅模糊; 天機燒破鴛鴦錦, 春酣欲醒移珊枕。 侍女金盆進水來, 香泉影蘸胭脂冷! 胭脂鮮艷何相類, 花之顏色人之淚, 若將人淚比桃花, 淚自長流花自媚, 淚眼...
4/ Tiền Xích Bích phú (Tô Thức)
前赤壁賦 壬戌之秋,七月既望,蘇子與客泛舟遊於赤壁之下。清風徐來,水波不興,舉酒屬客,誦明月之詩,歌窈窕之章。少焉,月出於東山之上,徘徊於斗牛之間。白露橫江,水光接天。縱一葦之所如,凌萬頃之茫然。浩浩乎如馮虛御風,而不知其所止;飄飄乎如遺世獨立,羽化而登仙。於是飲酒樂甚,扣舷而歌之。歌曰︰ 「桂棹兮蘭槳, 擊空明兮泝流光。 渺渺兮於懷, 望美人兮天一方。」客有吹洞蕭者,倚歌而和之,其聲嗚嗚然,如怨如慕,如泣如訴;餘音裊裊,不絕如縷;舞幽壑之潛蛟,泣孤舟之嫠婦。蘇子愀然,正襟危坐,而問客曰︰ 「何為其然也?」客曰︰ 「月明星...
5/ Thương tiến tửu (Lý Bạch)
將進酒 君不見: 黃河之水天上來, 奔流到海不復回? 又不見: 高堂明鏡悲白髮, 朝如青絲暮成雪? 人生得意須盡歡, 莫使金樽空對月。 天生我才必有用, 千金散盡還復來。 烹羊宰牛且為樂, 會須一飲三百杯。 岑夫子, 丹丘生, 將進酒, 杯莫停。 與君歌一曲, 請君為我傾耳聽。 鐘鼓饌玉何足貴, 但願長醉不願醒。 古來聖賢皆寂寞, 唯有飲者留其名。 陳王昔時宴平樂, 斗酒十千恣歡謔。 主人何為言少錢, 逕須沽取對君酌。 五花馬, 千金裘, 呼兒將出換美酒, 與爾同消萬古愁。Thương tiến tửu ...
Thơ Đường Trung Quốc
Thời Đường có nhiều tác giả kiệt xuất với những tác phẩm văn học nổi tiếng đến ngàn đời xưa. Tư duy của họ vượt thời đại hoặc phản ánh nền văn hoa đương thời, có nết riêng và đặc trưng.
1/ Tĩnh dạ tứ (Lý Bạch)
靜夜思 床前明月光, 疑是地上霜。 舉頭望明月, 低頭思故鄉。Tĩnh dạ tứ Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương. Cử đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương.Dịch nghĩa Đầu giường trăng sáng soi, Giống như là sương trên mặt đất. Ngẩng đầu ngắm nhìn vầng trăng sáng, Cúi đầu lại thấy nhớ quê nhà.
2/ Dạ biệt Vi tư sĩ (Cao Thích)
夜別韋司士 高館張燈酒復清, 夜鍾殘月雁歸聲。 只言啼鳥堪求侶, 無那春風欲送行。 黃河曲裏沙為岸, 白馬津邊柳向城。 莫怨他鄉暫離別, 知君到處有逢迎。Dạ biệt Vi tư sĩ Cao quán trương đăng tửu phục thanh, Dạ chung tàn nguyệt nhạn quy thanh. Chỉ ngôn đề điểu kham cầu lữ, Vô ná xuân phong dục tống hành. Hoàng Hà khúc lý sa vi ngoạn, Bạch Mã tân biên liễu hướng thành. Mạc oán tha hương tạm ly biệt, Tri quân đáo xứ hữu phùng nghinh.Dịch nghĩa Quán cao, chong ngọn đèn, rượu lại trong vắt Tiếng chuông đêm, ánh trăng nhạt, nhạn về kêu Chỉ bảo rằng tiếng chim gọi tìm đàn Nào biết ngọn gió xuân đang tiễn người đi Trên khúc Hoàng Hà hai bờ toàn cát Bên bến Bạch Mã liễu rũ quanh thành Chớ buồn giận vì tạm xa nơi đất khách Biết anh đến đâu cũng có người đón tiếp.
3/ Hiệp Khách Hành (Lý Bạch)
俠客行 趙客縵胡纓, 吳鉤霜雪明。 銀鞍照白馬, 颯沓如流星。 十步殺一人, 千里不留行。 事了拂衣去, 深藏身與名。 閑過信陵飲, 脫劍膝前橫。 將炙啖朱亥, 持觴勸侯嬴。 三杯吐然諾, 五岳倒為輕。 眼花耳熱後, 意氣素霓生。 救趙揮金鎚, 邯鄲先震驚。 千秋二壯士, 烜赫大樑城。 縱死俠骨香, 不慚世上英。 誰能書閣下, 白首太玄經。Hiệp khách hành Triệu khách mạn hồ anh, Ngô câu sương tuyết minh. Ngân an chiếu ...
4/ Vọng Lư sơn bộc bố (Lý Bạch)
望廬山瀑布 日照香爐生紫煙, 遙看瀑布掛前川。 飛流直下三千尺, 疑是銀河落九天。Vọng Lư sơn bộc bố Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên, Dao khan bộc bố quải tiền xuyên. Phi lưu trực há tam thiên xích, Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.Dịch nghĩa Mặt trời chiếu xuống đỉnh Hương Lô sinh ra màu khói tía, Từ xa nhìn thác nước treo như con sông trước mặt. Bay chảy thẳng xuống từ ba nghìn thước, Ngỡ là Ngân Hà rơi khỏi chín tầng mây.
5/ Tỳ bà hành (Bạch Cư Dị)
潯陽江頭夜送客, 楓葉荻花秋瑟瑟。 主人下馬客在船, 舉酒欲飲無管弦。 醉不成歡慘將別, 別時茫茫江浸月。 忽聞水上琵琶聲, 主人忘歸客不發。 尋聲暗問彈者誰, 琵琶聲停欲語遲。 移船相近邀相見, 添酒回燈重開宴。 千呼萬喚始出來, 猶抱琵琶半遮面。 轉軸撥弦三兩聲, 未成曲調先有情。 弦弦掩抑聲聲思, 似訴生平不得志。 低眉信手續續彈, 說盡心中無限事。 輕攏慢撚抹復挑, 初為霓裳後六么。 大弦嘈嘈如急雨, 小弦切切如私語。 嘈嘈切切錯雜彈, 大珠小珠落玉盤。 閒關鶯語花底滑, 幽咽流景水下灘。 水泉...
6/ Ky Xuân (Vương Bột)
羈春 客心千里倦, 春事一朝歸。 還傷北園裏, 重見落花飛。Ky xuân Khách tâm thiên lý quyện, Xuân sự nhất triêu quy. Hoàn thương bắc viên lý, Trùng kiến lạc hoa phi.Dịch nghĩa Lòng khách chán chường dài cả ngàn dặm, Dáng xuân chỉ một sớm đã về. Vẫn chạnh nhớ thương quê hương miền bắc, Khi lại thấy cánh hoa rơi bay.
7/ Bốc toán tử (Lý Chi Nghi)
卜算子 我住长江头, 君住长江尾。 日日思君不见君, 共饮长江水。 此水几时休? 此恨何时已? 只愿君心似我心, 定不负相思意。Dịch thơ:Nhà thiếp ở đầu sông, Nhà chàng ở phía cuối. Dòng nước Trường Giang cùng uống chung, Vắng chàng mong sớm tối. Nước nọ mấy khi ngừng, Hận này bao thuở vợi. Những mong ý thiếp giống lòng chàng, Mối tình quyết không thay đổi.
8/ Không đề (chưa rõ)
如果你是我眼里的;一滴泪 为了不失去你;我将永不哭泣 如果金色的阳光;停止了它耀眼的光芒 你的一个微笑;将照亮我的整个世界。Dịch nghĩa:Nếu em là giọt nước mắt của anh Để không mất đi em, anh sẽ không bao giờ rơi nước mắt Nếu em là ánh nắng vàng rực rỡ, anh muốn dập tắt đi ánh sáng rực rỡ ấy Mỗi nụ cười của em thắp sáng cả thế giới của anh
Thơ Trung Quốc về tình yêu ngắn
Những câu thơ Trung Quốc hay về tình yêu xưa và nay mang những vẻ riêng, đặc biệt. Dù thời đại nào, ái tình vẫn là chủ đề được yêu thích và đón nhận trong văn học, thơ ca.
1/ Đào yêu 1 (Khổng Tử)
桃夭 1 桃之夭夭、 灼灼其華。 之子于歸、 宜其室家。Đào yêu 1 Đào chi yêu yêu, Chước chước kỳ hoa. Chi tử vu quy, Nghi kỳ thất gia.Dịch nghĩa Cây đào tơ xinh tươi, Hoa nhiều rậm. Nàng ấy đi lấy chồng, Thì ắt thuận hoà êm ấm cảnh gia đình.
2/ Hành tương tư
行相思 行相思, 坐相思, 兩處相思各自知, 相思更為誰。朝相思, 暮相思, 一日相思十二時, 相思無盡期。Hành tương tư Hành tương ti (tư), Toạ tương ti, Lưỡng xứ tương ti các tự tri, Tương tư cánh vị thuỳ.Triêu tương ti, Mộ tương ti, Nhất nhật tương tư thập nhị thì, Tương tư vô tận kỳ.
3/ Đoạn chương (Biện Chi Lâm)
断章 你站在桥上看风景, 看风景人在楼上看你。 明月装饰了你的窗子, 你装饰了别人的梦。Dịch nghĩa:Bài thơ nhỏ Em đứng trên cầu ngắm phong cảnh, Người đứng trên lầu ngắm phong cảnh lại ngắm nhìn em. Trăng sáng tô điểm của sổ phòng em Em tô điểm giấc mộng của người.Dịch thơ:Em đứng trên cầu ngắm cảnh Người ngắm cảnh trên cầu lại ngắm em Ánh trăng điểm tô cửa sổ phòng em Giấc mộng ai kia lại được em tô điểm
4/ Bạch Đầu Ngân (Trác Văn Quân)
白头吟 皑如山上雪, 皎若云间月。 闻君有两意, 故来相决绝。 今日斗酒会, 明旦沟水头。 躞蹀御沟上, 沟水东西流。Dịch nghĩa:Trắng như tuyết trên núi, Sáng như trăng ở trong mây. Nghe lòng chàng có hai ý, Nên thiếp quyết cắt đứt. Ngày hôm nay nâng chén sum vầy, Sớm mai đã đưa tiễn nhau ở bên sông. Đi lững thững trên dòng nước, Nước cứ chảy xuôi mãi từ đông về tây (mà không quay về).Dịch thơ:Trắng như tuyết trên núi, Sáng tựa trăng giữa mây. Nghe lòng chàng hai ý, Thiếp đành đoạn tình này. Hôm nay chén sum họp, Đầu sông tiễn sớm mai. Lững thững theo dòng nước, Nước mãi chảy đông tây.
5/ Thu Phong Từ (Lý Bạch)
Tác phẩm秋风词 秋风清, 秋月明。 落叶聚还散, 寒鸦栖复惊。 相思相见知何日, 此时此夜难为情Dịch nghĩa:Gió thu thanh, Trăng thu sáng. Lá rụng lúc tụ lúc tán, Quạ lạnh đang đậu bỗng rùng mình. Nhớ nhau không biết ngày nào gặp? Lúc ấy đêm ấy chan chứa tình.Dịch thơ:Gió thu lành Trăng thu thanh Lá rơi tụ lại tán Quạ lạnh chợt rùng mình Thương nhớ, biết bao giờ mới gặp ? Lúc này đêm ấy ngẩn ngơ tình…
Thơ Trung Quốc về cuộc sống
Những câu thơ Trung Quốc hay về cuộc sống mô tả hoạt động của con người hằng ngày. Một số là hình ảnh lao động, vui chơi hoặc đơn giản là cảm nhận trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ.
1/ Bến đò (Tịch Mộ Dung)
渡口 让我与你握别 再轻轻抽出我的手 知道思念从此生根 浮云白日 山川庄严温柔让我与你握别 再轻轻抽出我的手 华年从此停顿 热泪在心中汇成河流是那样万般无奈的凝视 渡口旁找不到一朵可以相送的花 就把祝福别在襟上吧 而明日 明日又隔天涯Dịch thơ:Này anh yêu, cho phép em nói lời tạm biệt Chia tay nhé Suy tư đà bén rễ Sông núi hiền hoà mà uy nghiêmNày anh yêu, cho phép em nói lời tạm biệt Chia tay nhé Dẫu biết quyết vầy khác nào chấm dứt tuổi xuân Sông kia sâu đâu bằng tim em trào lệHết sức Em chẳng tìm nổi bông hoa trao anh qua đò Thay lời chúc phúc Rồi ngày mai rồi ngày mai Than ôi! Hai đứa ở hai phương trời.
2/ Bình Minh (mạc phi)
黎明 雪, 焐熱了村落 那聽得見風聲的窗子是貼心的耳朵, 黎明 是叮噹響的鐵匠鋪順手的工具 順手大造出來積雪把所有的閒暇 平分給每一個人天空, 這沒用的口袋 裝滿了夢想和食糧在死者丈量過地方 要走的路不論是遠是近Dịch nghĩa Tuyết, sưởi ấm làng mạc Cánh cửa sổ đã nghe thấy tiếng gióLà cái tai tri kỷ, bình minh Là lò rèn vang lên tiếng tinh tangNhững công cụ thuận tay Thuận tay chế tạo raTuyết đọng mang tất cả những nhàn rỗi Chia đều cho mỗi con ngườiBầu trời, cái túi không dùng ấy Xếp đầy khát vọng và lương thựcNơi những người chết đã đo đạc qua Con đường phải đi dù xa hay gần
3/ Bóng núi (Cố Thành)
山影 山影里, 现出远古的武士, 挽着骏马, 路在周围消失。他变成了浮雕, 变成纷纭的故事, 今天像恶魔, 明天又是天使。Dịch thơ:Trong bóng núi Hiện ra một tráng sĩ cổ xưa Dắt con tuấn mã Đường xung quanh mịt mờChàng biến thành phù điêu Thành câu chuyện mâu thuẫn Hôm nay như ác quỷ Ngày mai lại là thiên thần
4/ Cấy lúa
插新秧 春水田, 插新秧 拉緊喉嚨顫聲唱 你一句來我一句 看誰歌聲最飛揚!橫一行, 竪一行 一行一個新希望 春天栽顆苗兒青 秋天收捆稻兒黃三月水, 好清涼 泥塊踩得腳心癢 孩子站在田埂上 籃裏裝的去年糧去年糧, 最心偒 一半拿去做公糧 一半拿給李太爺 自已空空忙異常!春水田, 插新秧 插好新秧意彷徨 擡起頭來望一望 幾時還出好太陽?!Dịch thơ:Mạ non cấy vụ lúa xuân Cất cao tiếng hát trong ngần vang xa Anh ca rồi đến tôi ca Để xem ai hát vang xa nhất làngHàng dọc rồi lại hàng ngang Bao niềm vui mới gửi hàng mạ non Mùa xuân cấy mạ xanh rờn Thu về ta gặt lúa vàng trĩu bôngTháng ba đồng nước mát trong Đất bùn giẫm nát trong lòng bàn chân Trẻ em trên cánh đồng xuân Mang làn cơm của khẩu phần năm quaThương thay lúa gạo mùa qua Nửa đem đóng góp gọi là xung công Nửa thì cụ Lý cướp không Còn ta vất vả chẳng mong có phần!Mạ non cấy vụ lúa xuân Cấy xong mà vẫn phân vân bàng hoàng Ngẩng lên nhìn khắp xóm làng Bao giờ nắng mới ngập tràn khắp nơi?
5/ Cửa sông Hoàng Phố (Quách Mạt Nhược)
黄浦江口 平和之乡哟! 我的父母之邦! 岸草那么青翠! 流水这般嫩黄!我倚着船围远望, 平坦的大地如像海洋, 除了一┣啻涞牧? 全没有山崖阻障。小舟在波上簸扬, 人们如在梦中一样。 平和之乡哟! 我的父母之邦!Dịch nghĩa:Ôi quê hương hoà bình Xứ sở mẹ cha tôi Cỏ bờ xanh ngọc biếc Sông vàng như chồi tươiDựa mạn thuyền trông xa Đất bằng như biển cả Trừ sóng liễu biếc ra Không núi đồi ngăn trởThuyền chập chờn trên sóng Người như trong cõi mộng Ôi quê hương hoà bình Xứ sở mẹ cha tôi
6/ Bạch lộ tư (Lý Bạch)
白鷺鷥 白鷺下秋水, 孤飛如墜霜。 心閑且未去, 獨立沙洲旁。 Bạch lộ tư Bạch lộ há thu thuỷ, Cô phi như truỵ sương. Tâm nhàn thả vị khứ, Độc lập sa châu bàng.Dịch nghĩa Con cò trắng đáp xuống làn nước mùa thu, Bay một mình như cụm sương rơi. Với dáng điệu an nhàn nó chưa đi đâu cả, Nó đứng một mình trên bãi cát bìa cù lao.
Thơ Trung Quốc về mỹ nhân
Để mô tả người con gái đẹp, các thi nhân đã sử dụng những ngôn từ mỹ miều nhất. Dù thơ ca xưa hay hiện đại, vẻ đẹp của phụ nữ vẫn là đề tải làm cảm hứng cho nhiều nhà thơ, nhà văn.
1/ Tây Thi (Lý Bạch)
西施 西施越溪女, 出自苧蘿山。 秀色掩今古, 荷花羞玉顏。 浣紗弄碧水, 自與清波閑。 皓齒信難開, 沉吟碧雲間。 勾踐征絕豔, 揚蛾入吳關。 提攜館娃宮, 杳渺詎可攀。 一破夫差國, 千秋竟不還。Tây Thi Tây Thi Việt khê nữ, Xuất tự Trữ La san. Tú sắc yểm kim cổ, Hà hoa tu ngọc nhan. Hoán sa lộng bích thuỷ, Tự dữ thanh ba nhàn. Hạo xỉ tín nan khai, Trầm ngâm bích vân gian. Câu Tiễn chinh tuyệt diễm, Dương nga nhập Ngô quan. Đề huề Quán Oa cung, Yểu niểu cự khả phàn. Nhất phá Phù Sai quốc, Thiên thu cánh bất hoàn.
2/ Đề Mỹ Nhân (Biên Cống)
題美人 月宮秋冷桂團團, 歲歲花開只自攀。 共在人間說天上, 不知天上憶人間。Đề mỹ nhân Nguyệt cung thu lãnh quế đoàn đoàn, Tuế tuế hoa khai chỉ tự phan. Cộng tại nhân gian thuyết thiên thượng, Bất tri thiên thượng ức nhân gian.Dịch nghĩa Ở giữa cây quế, thu lạnh trên cung trăng Hằng năm hoa nở chỉ tự vin Khi cùng ở nhân gian luôn nhắc đến trên trời Biết đâu khi ở trên trời lại nhớ nhân gian
3/ Mỹ Nhân Đối Nguyệt (Đường Dần)
美人對月 斜髻嬌娥夜臥遲, 梨花風靜鳥栖枝。 難將心事和人說, 說與青天明月知。Mỹ nhân đối nguyệt Tà kết kiều nga dạ ngoạ trì, Lê hoa phong tĩnh điểu thê chi. Nan tương tâm sự hoà nhân thuyết, Thuyết dữ thanh thiên minh nguyệt tri.Dịch nghĩa Người con gái đẹp, búi tóc xiên lệch, đêm ngần ngại chưa nằm xuống, Gió lặng, chim đậu lên cành hoa lê. Tâm sự trong lòng khó đem nói cùng người, Đành nói với trăng sáng trên trời.
4/ Mỹ nữ thiên (Thào thực)
美女篇 美女妖且閑, 采桑歧路間。 柔條紛冉冉, 落葉何翩翩。 攘袖見素手, 皓腕約金環。 頭上金爵釵, 腰佩翠瑯玕。 明珠交玉體, 珊瑚間木難。 羅衣何飄搖, 輕裾隨風還。 顧盼遺光彩, 長嘯氣若蘭。 行徒用息駕, 休者以忘餐。 借問女安居, 乃在城南端。 青樓臨大路, 高門結重關。 容華耀朝日, 誰不希令顏。 媒氏何所營, 玉帛不時安。 佳人慕高義, 求賢良獨難。 眾人徒嗷嗷, 安知彼所觀。 盛年處房室, 中夜起長嘆。Mỹ nữ thiên Mỹ nữ yêu thả nhàn, Thái tang kỳ lộ gian. Nhu điều phân nhiễm nhiễm, Lạc diệp hà phiên phiên. Nhương tụ kiến tố thủ, Hạo oản ước kim hoàn. Đầu thượng kim tước thoa, Yêu bội thuý lang can. Minh châu giao ngọc thể, San hô gian mộc nan. La y hà phiêu diêu, Khinh cứ tuỳ phong hoàn. Cố phán di quang thái, Trường khiếu khí nhược lan. Hành đồ dụng tức giá, Hưu giả dĩ vong xan. Tá vấn nữ an cư, Nãi tại thành nam đoan. Thanh lâu lâm đại lộ, Cao môn kết trùng quan. Dung hoa diệu triêu nhật, Thuỳ bất hy lệnh nhan. Môi thị hà sở dinh, Ngọc bạch bất thì an. Giai nhân mộ cao nghĩa, Cầu hiền lương độc nan. Chúng nhân đồ ngao ngao, An tri bỉ sở quan. Thịnh niên xử phòng thất, Trung dạ khởi trường thán.
Thơ thất tình Trung Quốc
Các bài thơ Trung Quốc buồn thường bởi biệt ly, chia tay. Mỗi câu thơ nói lên tâm trạng của tác giả.
1/ Tương tư khúc (Đới Thúc Luân)
作者:戴叔伦 - 唐。高楼重重闭明月, 肠断仙郎隔年别。 紫萧横笛寂无声, 独向瑶窗坐愁绝。 鱼沉雁杳天涯路, 始信人间别离苦。 恨满牙床翡翠衾, 怨折金钗凤凰股。 井深辘轳嗟绠短, 衣带相思日应缓。 将刀斫水水复连, 挥刃割情情不断。 落红乱逐东流水, 一点芳心为君死。 妾身愿作巫山云, 飞入仙郎梦魂里。Dịch nghĩaLầu cao lớp lớp che trăng sáng, Đau lòng vì suốt năm xa cách chàng. Tiêu im sáo lặng không ...
2/ Tương tư oán (Lý Quý Lan)
相思怨 人道海水深, 不抵相思半。 海水尚有涯, 相思渺無畔。 攜琴上高樓, 樓虛月華滿。 彈著相思曲, 弦腸一時斷。Tương tư oán Nhân đạo hải thuỷ thâm, Bất để tương tư bán. Hải thuỷ thượng hữu nhai, Tương tư diểu vô bạn. Huề cầm thượng cao lâu, Lâu hư nguyệt hoa mãn. Đàn trước tương tư khúc, Huyền trường nhất thì đoạn.Dịch nghĩa Người nói rằng nước bể sâu, Nhưng không bằng phân nửa mối tương tư. Nước bể vẫn có bờ, Nỗi nhớ thương chẳng bờ bến. Ôm đàn lên lầu cao, Lầu vắng chỉ có hoa và trăng tràn ngập. Khúc tương tư vừa dạo lên, Trong lòng bỗng như có sợi dây đứt.
3/ Biệt ly (Lục Quy Mông)
別離 丈夫非無淚, 不洒離別間。 杖劍對尊酒, 恥為遊子顏。 蝮蛇一螫手, 壯士即解腕。 所志在功名, 離別何足嘆。Biệt ly Trượng phu phi vô lệ, Bất sái ly biệt gian. Trượng kiếm đối tôn tửu, Sỉ vi du tử nhan. Phúc xà nhất thích thủ, Tráng sĩ tức giải oản. Sở chí tại công danh, Ly biệt hà túc thán.Dịch nghĩa Người hùng không phải không có nước mắt, Nhưng không rơi lúc ly biệt. Kiếm trong tay, nâng chén tiễn biệt, Rất xấu hổ với vẻ rầu rĩ của người đi tầm thường. Một khi bị rắn độc cắn vào tay, Tráng sĩ chặt cụt tay tức thì. Với chí can trường như vậy đi lập công danh, Chuyện ly biệt có đáng chi để than vãn.
4/ Giá cô thiên - Biệt tình
鷓鴣天-別情 玉慘花愁出鳳城, 蓮花樓下柳青青。 樽前一唱陽關曲, 別箇人人第五程。尋好夢, 夢難成。 有誰知我此時情。 枕前淚共階前雨, 隔個窗兒滴到明。Giá cô thiên - Biệt tình Ngọc thảm hoa sầu xuất phụng thành, Liên hoa lâu hạ liễu thanh thanh. Tôn tiền nhất xướng “Dương Quan khúc”, Biệt cá nhân nhân đệ ngũ trình.Tầm hảo mộng, Mộng nan thành. Hữu thuỳ tri ngã thử thời tình. Chẩm tiền lệ cộng giai tiền vũ, Cách cá song nhi chích đáo minh.
5/ Cổ ly biệt
晴煙漠漠柳毿毿, 不那離情酒半酣。 更把玉鞭雲外指, 斷腸春色在江南。Cổ ly biệt Tình yên mạc mạc liễu tam tam, Bất nả ly tình tửu bán hàm. Cánh bả ngọc tiên vân ngoại chỉ, Đoạn trường xuân sắc tại Giang Nam.Dịch thơ:Liễu rũ lơ thơ khói tạnh rơi, Chưa say còn đắng rượu chia phôi. Đầu roi lại chỉ đường mây thẳm, Xuân sắc Giang Nam đứt ruột người.
Thơ Trung Quốc về tình yêu đơn phương
Thơ Trung Quốc về tình yêu buồn mang niềm thương tiếc cho mối tình không trọn vẹn.
1/ Không đề (Chưa rõ)
请原谅我爱上你 原谅我用全部的身心爱你 原谅我永不愿与你分离。Dịch nghĩa:Thứ lỗi cho anh vì đã yêu em Thứ lỗi cho anh vì dùng cả trái tim yêu em Thứ lỗi cho anh vì không thể rời xa em.
2/ Ngọc Lâu Xuân - Xuân Hận (Án Thù)
绿杨芳草长亭路, 年少抛人容易去。 楼头残梦五更钟, 花底离愁三月雨。无情不似多情苦, 一寸还成千万缕。 天涯地角有穷时, 只有相思无尽处。Dịch thơ: Ngọc Lâu Xuân - Xuân Hận Tác giả: Nguyễn Đương TịnhLiễu xanh cỏ ngát hương ngoài lộ, Tuổi trẻ ra đi đâu có khó. Trên lầu trằn trọc suốt năm canh, Ly biệt tháng ba hoa ướt rũ.Vô tình nào khổ tựa đa tình, Một tấc tơ lòng muôn vạn mớ. Chân trời mặt đất còn chia ngăn, Chỉ có nhớ nhau không hạn chỗ.
3/ Hồng đậu từ (Tào Tuyến Cần)
紅豆詞 滴不盡相思血淚拋紅豆, 開不完春柳春花滿畫樓; 睡不穩紗窗風雨黃昏后, 忘不了新愁與舊愁。 咽不下玉粒金波噎滿喉, 照不盡菱花鏡里形容瘦。 展不開的眉頭, 捱不明的更漏-- 呀! 恰便似遮不住的青山隱隱, 流不斷的綠水悠悠。Hồng đậu từ Trích bất tận, tương tư huyết lệ phao hồng đậu, Khai bất hoàn, xuân liễu xuân hoa mãn hoạch lâu. Thuỵ bất ổn, sa song phon...
Thơ Trung Quốc hiện đại
Thơ hiện đại có cách dùng từ khác biệt so với thơ cổ. Thể thơ cũng thường ở dạng 5 chữ, 6 chữ thay vì các thể đường luật hoặc thất ngôn bát cú.
1/ Ấn tượng về Thượng Hải (Quách Mạt Nhược)
上海印象 我从梦中惊醒了! 的悲哀哟!游闲的尸, 淫嚣的肉, 长的男袍, 短的女袖, 满目都是骷髅, 满街都是灵柩, 乱闯, 乱走。 我的眼儿泪流, 我的心儿作呕。我从梦中惊醒了。 的悲哀哟!Dịch thơ:Tự trong mơ, ta sực tỉnh rồi! Nỗi đau buồn Vỡ mộng, ôi!Những xác lang thang Những thịt tà dâm Những áo dài nam Những áo cộc nữ Nhìn đâu cũng thấy xương khô Đầy phố đều là linh cữu Xông bừa Chạy ẩu Mắt ta lệ sa Lòng ta lợm mửaTự trong mơ, ta sực tỉnh rồi! Nỗi đau buồn Vỡ mộng, ôi!
2/ Bài hát ra ải (Tịch Mộ Dung)
出塞曲 请为我唱一首出塞曲 用那遗忘了的古老言语 请用美丽的颤音轻轻呼唤我心中的大好河山 那只有长城外才有的景象谁说出塞曲的调子太悲凉 如果你不爱听 那是因为 歌中没有你的渴望而我们总是要一唱再唱 像那草原千里闪着金光 像那风沙呼啸过大漠 像那黄河岸,阴山旁 英雄骑马壮 骑马荣归故乡Dịch thơ:Làm ơn hát tớ nghe ca khúc Chứa những từ cũ bị lãng quên Nhẹ trỗi giọng với âm rung đẹpTrong tim tớ, những ngọn núi cao và những dòng sông lớn Chỉ có bên ngoài Vạn Lí Trường ThànhQuá buồn thảm khúc ca ra biên ải Bạn chẳng muốn nghe Bởi vì Nhạc phẩm chẳng thể hiện mong muốn gì cho bạnCòn chúng ta luôn luôn phải hát Như thảo nguyên ngàn dặm ánh vàng Như gió cát thổi qua sa mạc Như núi Âm bên bến sông Hoàng Mạnh mẽ anh hùng phi ngựa chiến Về nhà vang khí thế khải hoàn.
3/ Nữ nhi tình (Dương Khiết)
女兒情 鴛鴦雙栖蝶雙飛, 滿園春色惹人醉。 悄悄問聖僧, 女兒美不美, 女兒美不美。 說什麼王權富貴, 怕什麼戒律清規。 只願天長地久, 與我意中人兒緊相隨。 愛戀伊,愛戀伊, 願今生常相隨。Nữ nhi tình Uyên ương song tê điệp song phi, Mãn viên xuân sắc nhạ nhân tuý. Tiễu tiễu vấn thánh tăng, Nữ nhi mỹ bất mỹ? Nữ nhi mỹ bất mỹ? Thuyết thập ma vương quyền phú quý, Phạ thập ma giới luật thanh quy. Chỉ nguyện thiên trường địa cửu, Dữ ngã ý trung nhân nhi khẩn tương tuỳ. Ái luyến y, ái luyến y, Nguyện kim sinh thường tương tuỳ.Dịch nghĩa Đôi uyên ương cùng đậu, đôi bướm cùng bay Khắp vườn, xuân sắc khiến người say đắm Lén lút hỏi thánh tăng: Nữ nhi có đẹp hay không? Nữ nhi có đẹp hay không? Kể làm gì vương quyền phú quý Ngại làm chi giới luật thanh quy Chỉ muốn trời đất lâu dài Được cùng với người trong lòng ta mãi bên nhau Yêu thương chàng, yêu thương chàng Muốn kiếp này luôn được ở bên nhau.
4/ Thiếu niên ưu hoạn (Quách Mạt Nhược)
少年憂患 少年憂患深滄海, 血浪排胸淚欲流。 萬事請從隗始耳, 神州是我我神州。Thiếu niên ưu hoạn Thiếu niên ưu hoạn thâm thương hải, Huyết lãng bài hung lệ dục lưu. Vạn sự thỉnh tùng ngôi thuỷ nhĩ, Thần châu thị ngã ngã thần châu.
5/ Vịnh oa (Mao Trạch Đông)
詠蛙 獨坐池塘如虎踞, 綠蔭樹下養精神。 春來我不先開口, 哪個蟲兒敢作聲?Vịnh oa Độc toạ trì đường như hổ cứ, Lục ấm thụ hạ dưỡng tinh thần. Xuân lai ngã bất tiên khai khẩu, Na cá trùng nhi cảm tác thanh?
Thơ tiếng Trung ngắn
Các bài thơ ngắn nhưng vẫn mô tả đủ tâm trạng của tác giả. Những tác phẩm này lấy được sự đồng cảm từ rất nhiều bạn đọc.
1/ Hoa phi hoa (Bạch Cư Dị)
花非花 花非花, 霧非霧。 夜半來, 天明去。 來如春夢幾多時, 去似朝雲無覓處。Hoa phi hoa Hoa phi hoa, Vụ phi vụ. Dạ bán lai, Thiên minh khứ. Lai như xuân mộng kỷ đa thời, Khứ tự triêu vân vô mịch xứ!Dịch nghĩa Rằng hoa, thì không phải là hoa, Rằng mây, thì không phải là mây. Nửa đêm tới, Sáng hôm sau lại đi mất. Khi đến thì như giấc mộng xuân không được bao lâu, Khi đi thì như mây trời không biết đâu mà tìm lại được.
2/ Che chung ô (Dư Quang Trung)
傘盟 如果夜是一場青雨淋淋 幸而我還有一盞台燈 一把精緻的小雨傘 撐開一圈柔和的氣氛 而無論用什幺做成 用緋色的氛圍或橙色的光暈 愿你與我做共傘的人 伴我涉過濕冷的雨地 如果夜是青雨淋淋 如果死亡是黑雨凄凄 如果我站在雨地里 等你撐傘來迎接,等你Dịch thơ:Nếu đêm là một cơn mưa dầm dề Rất may tô còn một cây đèn bão Một chiếc ô con đẹp và tinh xảo Toả ra ánh sáng ấm vàng để điNếu chết là cơn mưa đen lạnh lẽo Rất may tôi còn có một tình yêu Một chiếc ô nhỏ con và cũ kỹ Toả ra luồng khí hồng dịu đáng yêuDù cho mưa gió bằng gì tạo nên Bọc bằng màu hồng hoặc ánh sáng cam Ta che chung ô - Điều tôi mong muốn Qua miền mưa gió ướt lạnh triền miênNếu đêm là một cơn mưa dầm dề Và chết là cơn mưa đen lạnh lẽo Nếu tôi đứng nơi đang mưa xối xả Đợi anh giương ô đi đến, tôi đợi anh!
3/ Cổ biệt ly
下階欲離別, 相對映蘭叢。 含辭未及吐, 淚落蘭叢中。 高堂靜秋日, 羅衣飄暮風。 誰能待明月? 回首見床空。Cổ biệt ly Hạ giai dục ly biệt, Tương đối ánh lan tùng. Hàm từ vị cập thổ, Lệ lạc lan tùng trung. Cao đường tĩnh thu nhật, La y phiêu mộ phong. Thuỳ năng đãi minh nguyệt? Hồi thủ kiến sàng không.
4/ Chôn ở trong lòng (Tang Hằng Xương)
心葬 女儿出生的那一夜 是我一生中最长的一夜 母亲谢世的那一夜 是我一生中最短的一夜 母亲就这样 匆匆匆匆地去了将母亲土葬 土太龌龊 将母亲火葬 火太无情 将母亲水葬, 水太漂泊 只有将母亲心葬了 肋骨是墓地坚固的栅栏Dịch thơ:Đêm con gái tôi sinh ra Là đêm dài nhất đời tôi Đêm mẹ tôi từ trần Là đêm ngắn nhất Mẹ đã ra đi Quá vội vàngChôn mẹ Đất không sạch Thiêu mẹ Lửa vô tình Thuỷ táng mẹ Nước trôi xuôi Chỉ có để mẹ ở trong lòng Cho xương sườn con chở che, gìn giữ.
5/ Chuyện thần kỳ trong núi (Dư Quang Trung)
山中傳奇 落日說黑蟠蟠的松樹林背後 那一截斷霞是他的簽名 從焰紅到燼紫 有效期間是黃昏 幾隻歸鳥 追過去探個究竟 卻陷在暮色,不,夜色裡 一隻,也不見回來 --這故事 山中的秋日最流行Dịch thơ:Mặt trời lặn Kể chuyện về khu rừng thông cuộn tròn đen sẫm sau lưng Chữ ký của nó là nơi vạch đứt ráng mây chiều Từ ngọn lửa hồng đến tàn tro tím Thời gian rõ nhất là lúc hoàng hôn Mấy cánh chim Bay về thăm dò nguồn cội Nhưng lại chìm trong sắc trời chiều, không, sắc trời đêm Không thấy một con nào bay trở lại! Câu chuyện này Được kể nhiều vào những ngày thu trong núi
Thơ tình trung quốc chữ Hán
Thơ chữ Hán với nhiều thể loại đã được tổng hợp. Đó có thể là câu chuyện về tình yêu đôi lứa nhưng cũng có thể là câu chuyện vụn vặn trong cuộc sống thường ngày. Nhiều bạn đã thả thính bằng thơ bằng những dòng thơ đầy cảm xúc này.
1/ Trường tương tư (Vương Thế Trinh)
長相思 長相思, 望難期, 美人如花隔深閨。 輕霜剪澁凝臙脂, 靑黄碧緑諸色絲, 織成鴛鴦心自悲。 兩心為一心, 明月照秋水。 一心成兩心, 各懸三千里。 昔為比翼鳥, 翼折不能飛。 今為雙星界河漢, 年年夜夜盼光輝。Trường tương tưTrường tương tư, Vọng nan kỳ, Mỹ nhân như hoa cách thâm khuê. Khinh sương tiễn sáp ngưng yên chi, Thanh hoàng bích lục chư sắc ti, Chức thành uyên ương tâm tự bi. Lưỡng tâm vi nhất tâm, Minh nguyệt chiếu thu thuỷ. Nhất tâm thành lưỡng tâm, Các huyền tam thiên lý. Tích vi tỉ dực điểu, Dực chiết bất năng phi. Kim vi song tinh giới Hà Hán, Niên niên dạ dạ phán quang huy.
2/ Biệt ly (Quách Mạt Nhược)
别离 残月黄金梳, 我欲掇之赠彼姝, 彼姝不可见, 桥下流水声如泫。晓日月桂冠, 掇之欲上青天难。 青天犹可上, 生离令我情惆怅。Dịch thơ:Trăng liềm như chiếc lược vàng Ta toan ngắt xuống tặng nàng xinh tươi Người xinh chẳng thấy được người Dưới cầu, suối chảy như lời khóc thanMặt trời trông như vành nguyệt quế Muốn lấy về, há dễ lên trời Dẫu cho lên được đến nơi Vắng nàng, ta những bồi hồi nhớ thương.
Thơ Trung Quốc về trăng
Trăng là biểu tượng bất diệt trong thơ ca Việt Nam và cả Trung Quốc. Rất nhiều tác giả lấy nguồn cảm hứng từ trăng, đưa vào trong những câu thơ của mình.
1/ Minh nguyệt dạ lưu biệt (Lý Quý Lan)
明月夜留別 離人無語月無聲, 明月有光人有情。 別後相思人似月, 雲間水上到層城。Minh nguyệt dạ lưu biệt Ly nhân vô ngữ nguyệt vô thanh, Minh nguyệt hữu quang nhân hữu tình. Biệt hậu tương tư nhân tự nguyệt, Vân gian thuỷ thướng đáo Tằng Thành.Dịch nghĩa Người ta sắp xa không nói gì, mặt trăng cũng im lặng, Trăng có ánh sáng, người có tâm tình. Sau khi xa rồi, có nhớ nhau, ta sẽ xem trăng là người, Từ trong đám mây hay trên dòng sông, trăng sẽ đến Tằng Thành.
2/ Minh Nguyệt Lâu (Dương Hán Công)
吳興城闕水雲中, 畫舫青簾處處通。 溪上玉樓樓上月, 清光合作水晶宮。Minh Nguyệt lâu Ngô Hưng thành khuyết thuỷ vân trung, Hoạ phảng thanh liêm xứ xứ thông. Khê thượng ngọc lâu lâu thượng nguyệt, Thanh quang hợp tác thuỷ tinh cung.Dịch nghĩa Hành cung ở Ngô Hưng ở giữa bầu mây nước, Du thuyền lớn sang trọng có màn cửa xanh lui tới thông thương. Lầu cất bên bờ suối có ánh trăng soi, Trăng sáng, suối trong cùng tạo vẻ đẹp của cung như thuỷ tinh.
3/ Bả tửu vấn nguyệt (Lý Bạch)
把酒問月 青天有月來幾時, 我今停杯一問之。 人攀明月不可得, 月行卻與人相隨。 皎如飛鏡臨丹闕, 綠煙滅盡清輝發。 但見宵從海上來, 寧知曉向雲間沒。 白兔搗藥秋復春, 嫦娥孤棲與誰鄰。 今人不見古時月, 今月曾經照古人。 古人今人若流水, 共看明月皆如此。 唯願當歌對酒時, 月光常照金樽裡。Bả tửu vấn nguyệt Thanh thiên hữu nguyệt lai kỷ thì, Ngã kim đình bôi nhất vấn chi! Nhân phan minh nguy...
4/ Bái tân nguyệt (Lý Đoan)
拜新月 開簾見新月, 即便下階拜。 細語人不聞, 北風吹裙帶。Bái tân nguyệt Khai liêm kiến tân nguyệt, Tức tiện há giai bái. Tế ngữ nhân bất văn, Bắc phong xuy quần đái.Dịch nghĩa Mở rèm thấy trăng vừa mới nhú Liền bước xuống thềm vái trăng Lầm rầm khấn không ai nghe thấy Gió bấc thổi dải quần bay lên
5/ Bát nguyệt (Chương Hiếu Tiêu)
徒倚仙居繞翠樓, 分明宮漏靜兼秋。 長安夜夜家家月, 幾處笙歌幾處愁。Bát nguyệt Đồ ỷ tiên cư nhiễu thuý lâu, Phân minh cung lậu tĩnh kiêm thâu. Trường An dạ dạ gia gia nguyệt, Kỷ xứ sanh ca, kỷ xứ sầu.Dịch nghĩa Trăng cứ dùng dằng chiếu quanh lầu xanh ở khu nhà giàu, Đồng hồ rõ ràng giỏ giọt trong không gian tĩnh mịch mùa thu. Hàng đêm trăng chiếu trên mọi nhà ở Trường An, Vài nơi giàu có đàn ca, vài nơi nghèo buồn bã.
Thơ Trung Quốc về tình bạn
Những câu thơ về tình bạn thể hiện sự trân trọng của tác giả với bằng hữu của mình. Dù xưa hay nay, tri kỷ vẫn là điểm tựa quý giá của mỗi người.
1/ Bè bạn
Trên hành lang đi như tập bước Gặp mặt nhau khe khẽ gật đầu Ngay tên tuổi cũng không hỏi biết Mà hai bên đã bạn bè nhau
2/ Bảy mươi tự nói
七十自喻 再長的江河終必要入海 河口那片三角洲 還要奔波多久才抵達? 只知道早就出了峽 回望一道首橫斷山脈 關之不斷,阻之不絕 到此平緩已經是下游 多少支流一路來投奔 沙泥與歲月都已沉澱 寧靜的深夜,你聽 河口隱隱傳來海嘯 而河源雪水初融 正滴成清細的涓涓 再長的江河終必要入海 河水不回道,而河長在Dịch nghĩaSống lâu rồi cũng hoà vào biển cả Nơi tam giác châu ấy vùng cửa sông Còn phải bôn ba bao lâu mới tới Chỉ biết rằng sắp đến biển mênh môngNgoảng nhìn lại từng mạch núi gãy ngang Đất cát từng lắng đọng theo thời gian Hãy lắng nghe khi đêm khuya yên tĩnh Từ cửa sông biển gầm lên thét vangTuyeesat ở đầu nguồn bắt đầu tan chảy Đang tạo thành những gợn sóng lăn tăn Mọi dòng sông đều hoà vào biển lớn Không quay đầu, trôi về cõi xa xăm!
3/ Đối tửu ức Hạ Giám kỳ 1 (Lý Bạch)
對酒憶賀監其一 四明有狂客, 風流賀季真。 長安一相見, 呼我謫仙人。 昔好杯中物, 翻為松下塵。 金龜換酒處, 卻憶淚沾巾。Đối tửu ức Hạ Giám kỳ 1 Tứ Minh hữu cuồng khách, Phong lưu Hạ Quý Chân. Trường An nhất tương kiến, Hô ngã trích tiên nhân. Tích hảo bôi trung vật, Phiên vi tùng hạ trần. Kim Quy hoán tửu xứ, Khước ức lệ triêm cân.
Thơ Trung Quốc về rượu
Các tác giả luôn có cách đặc biệt để viết các bài thơ về rượu. Nhiều bài thơ không cần nhắc tên, bạn đọc vẫn cảm nhận được cơn say thấm dần.
1/ Ngô vương mỹ nhân bán tuý (Lý Bạch)
吳王美人半醉 風動荷花水殿香, 姑蘇臺上宴吳王。 西施醉舞嬌無力, 笑倚東窗白玉床。Ngô vương mỹ nhân bán tuý Phong động hà hoa thuỷ điện hương, Cô Tô đài thượng yến Ngô vương. Tây Thi tuý vũ kiều vô lực, Tiếu ỷ đông song bạch ngọc sàng.Dịch nghĩa Gió lay động sen hồ, hương thơm ngát Đài Cô Tô, vua Ngô tiệc đang nồng Múa trong say, tây Thi chừng mệt lả Cười cựa mình vào giường ngọc bên song
2/ Ẩm tửu khán mẫu đơn (Lưu Vũ Tích)
饮 酒 看 牡 丹今 日 花 前 饮 甘 心 醉 数 杯 但 愁 花 有 语 不 为 老 人 开Dịch nghĩa:Uống Rượu Ngắm Hoa Mẫu Đơn Hôm nay uống rượu trước hoa Lòng vui say mấy chén Chỉ sợ hoa biết nói: Không nở vì người già
3/ Ẩm tửu (Khương Đặc Lập)
飲酒 平生嗜酒不耽酒, 不愛深斟愛淺斟。 嵇阮詎能知此味, 可憐一世只醺沈。Ẩm tửu Bình sinh thị tửu bất đam tửu, Bất ái thâm châm ái thiển châm. Kê Nguyễn cự năng tri thử vị, Khả liên nhất thế chỉ huân trầm.
4/ Đối tửu (Lý Bạch)
對酒 蒲萄酒, 金叵羅, 吳姬十五細馬馱。 青黛畫眉紅錦靴, 道字不正嬌唱歌。 玳瑁筵中懷裏醉, 芙蓉帳底奈君何。Đối tửu Bồ đào tửu, Kim phả la, Ngô cơ thập ngũ tế mã đà. Thanh đại hoạ mi hồng cẩm ngoa, Đạo tự bất chính kiều xướng ca. Đại mội diên trung hoài lý tuý, Phù dung trướng để nại quân hà.
Kết luận
Tổng hợp thơ Trung Quốc hay nhất đem đến cho bạn đọc nhiều cung bậc cảm xúc. Đây đều là những vần thơ được tuyển chọn rất kỹ, bạn có thể tham khảo và chia sẻ cho những người cùng sở thích.
Bạn đã thích câu chuyện này ?
Hãy chia sẻ bằng cách nhấn vào nút bên trên
Truy cập trang web của chúng tôi và xem tất cả các bài viết khác!