I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả: Hồ Chí Minh (1890 - 1969)
2. Tác phẩm “Nhật kí trong tù”
Tháng 8 - 1942, Hồ Chí Minh, từ Pác Bó (Cao Bằng) bí mật lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ quốc tế cho cách mạng Việt Nam. Khi đến thị trấn Túc Vinh thì Người bị chính quyền địa phương bắt giữ, rồi bị giải tới giải lui gần 30 nhà giam của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, bị đày đọa cực khổ hơn một năm trời. Trong những ngày đó, Người đã viết “Nhật kí trong tù” bằng thơ chữ Hán, gồm 133 bài, phần lớn là thơ tứ tuyệt.
Tuy Bác Hồ viết “Nhật kí trong tù” chỉ để “ngâm ngợi cho khuây” trong khi đợi tự do, tập thơ vẫn cho thấy rõ tâm hồn cao đẹp, ý chí cách mạng phi thường và tài năng thơ xuất sắc của Người. Có thể nói “Nhật kí trong tù” là một viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân tộc.
3. Văn bản “Ngắm trăng”
a. Hoàn cảnh - xuất xứ, thể loại
Hoàn cảnh - xuất xứ: Bài thơ “Ngắm trăng” được sáng tác trong ngục tù của Tưởng Giới Thạch, in trong tập thơ “Nhật kí trong tù” (1942).
Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
b. Bố cục: 2 phần
Hai câu đầu: Hoàn cảnh ngắm trăng.
Hai câu cuối: Sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên.
II. Đọc - hiểu văn bản
1. Ý nghĩa nhan đề
“Vọng nguyệt” (hay đối nguyệt, khán minh nguyệt - ngắm trăng) là đề tài rất phổ biến trong thơ cổ. Nhà thơ gặp cảnh trăng đẹp, thường đem rượu uống, ngắm hoa, ngắm trăng. Có rượu và hoa (có bạn tri âm), thì sự thưởng thức cảnh trăng mới viên mãn, mười phần thú vị.
Nhìn chung, người ta chỉ ngắm trăng khi tâm hồn thảnh thơi, thư thái. Ở đây, Hồ Chí Minh đã ngắm trăng trong hoàn cảnh đặc biệt: trong tù, ở nước ngoài.
2. Hoàn cảnh ngắm trăng của Bác
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
(Trong tù không rượu cũng không hoa)
Không gian: trong tù
Liệt kê, điệp ngữ: không rượu, không hoa
→ Bác ngắm trăng trong hoàn cảnh bị giam cầm trong nhà tù, thiếu thốn mọi điều kiện cần thiết trong thú vui tinh thần của thi nhân.
Đối thử lương tiêu nại nhược hà?
(Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ)
Câu thơ thứ hai, 3 tiếng “nại nhược hà?” (biết làm thế nào?) dịch thành “khó hững hờ”, đã đổi từ câu hỏi thành câu cảm, thậm chí biến thành câu tả, câu kể, bỏ mất cái xốn xang, bối rối rất nghệ sĩ, rất nhạy cảm trước vẻ đẹp thiên nhiên của Bác Hồ.
Trước cảnh đêm trăng đẹp, tâm hồn nghệ sĩ yêu say đắm thiên nhiên rất muốn có một cuộc thưởng trăng đầy đủ, nhưng trong tù thì làm sao có thể? Người tiếc và thấy thiếu vắng rượu, hoa. Nhưng nhớ đến rượu, hoa trong cảnh nhà tù khắc nghiệt càng cho thấy người tù không hề vướng bận bởi vật chất, tâm hồn vẫn tự do, ung dung, vẫn thèm tận hưởng cảnh trăng đẹp. Nhưng càng vì thế, càng khao khát, càng bối rối, càng bứt rứt.
→ Bác là người yêu thiên nhiên một cách say đắm, rung động mãnh liệt trước vẻ đẹp của thiên nhiên - đó chính là tâm hồn nghệ sĩ của Bác mặc dù đang trong cảnh tù đày.
3. Sự giao hòa giữa người và trăng
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.
(Người ngắm trăng soi ngoài của sổ,
Trăng nhòm khe của ngắm nhà thơ.)
Hai câu thơ thể hiện mối quan hệ rất đặc biệt, sự giao hòa thắm thiết giữa trăng và người. Phép đối (nhân- nguyệt; minh nguyệt - thi gia) và nhân hóa (trăng: nhòm, ngắm) được sử dụng rất thành công.
Người tu hướng ra ngoài cửa sổ say ngắm vầng trăng sáng, thầm thì tâm sự bằng tưởng tượng cùng chị Hằng. Và vầng trăng cũng chủ động - vượt qua song sắt, qua khe cửa hẹp của nhà tù để đến với tri âm, để ngắm nhà thơ. Cả hai đều chủ động tìm đến nhau, giao hòa cùng nhau.
Hình ảnh song sắt người tù và trăng vừa có nghĩa đen vừa có nghĩa tượng trưng. Sức mạnh tàn bạo, lạnh lùng của nhà tù vẫn bất lực trước tâm hồn tự do của người tù cách mạng.
→ Hai câu thơ cho thấy sức mạnh tinh thần kì diệu của người chiến sĩ - thi sĩ. Phía này là nhà tù đen tối, là hiện thực tàn bạo, phía kia là vầng trăng thơ mộng, bầu trời tự do, thế giới của cái đẹp. Ở giữa hai thế giới đối cực là cửa sắt, song sắt nhà tù. Nhưng với cuộc ngắm trăng này, nhà tù, song sắt đã trở nên vô nghĩa trước những tâm hồn tri âm, tri kỉ tìm đến nhau.

“Trăng” trong thơ của Bác:
- Trăng trong “Vọng nguyệt”: tròn đầy, trăng xuân lồng lộng, bát ngát giữa sông xuân, trời xuân.
- Trăng trong “Cảnh khuya”: đẹp kỉ ảo như bức tranh sơn mài lộng lẫy, trăng trong rừng, suối chiến khu.
- Trăng trong “Báo tiệp”: trăng khuya, tinh tế, dí dỏm và chủ động đòi thơ.
Tóm lại: Hình ảnh trăng trong thơ Bác thật nhiều vẻ. Hồ Chí Minh có tâm hồn thật nghệ sĩ. Luôn mở ra, giao hòa với trăng - biểu tượng tuyệt vời cái đẹp của thiên nhiên, vũ trụ.
III. Tổng kết
1. Nghệ thuật
Bài thơ tứ tuyệt, giản dị mà hàm súc.
Sử dụng thành công nghệ thuật điệp, đối.
Vừa mang màu sắc cổ điển (thi đề - vọng nguyệt; thi liệu: rượu, hoa, trăng; cấu trúc đăng đối…) vừa mang tinh thần thời đại (tinh thần thép, sự tự do nội tại, phong thái ung dung, vượt lên sự tàn bạo của tù ngục…).
2. Nội dung
Bài thơ cho thấy tinh thần yêu thiên nhiên đến say mê và phong thái ung dung của Bác Hồ.
Giáo viên biên soạn: Mai Thị Trang
Đơn vị: Trường TH - THCS - THPT Lê Thánh Tông