Sa cơ quan vùng chậu (pelvic organ prolapse) thuộc nhóm rối loạn sàn chậu xảy ra khi cơ và mô liên kết của sàn chậu yếu đi. Những mô cơ này có chức năng giữ cơ quan vùng chậu (gồm âm đạo, bàng quang, tử cung, niệu đạo và trực tràng) nằm đúng vị trí. Vì vậy, các cơ quan vùng chậu sẽ trượt khỏi vị trí ban đầu nếu những mô cơ này bị giãn hoặc lỏng lẻo. Trường hợp nghiêm trọng hơn, cơ quan vùng chậu có thể thoát vị xuống thành âm đạo.

Sa cơ quan vùng chậu được phân loại dựa trên vị trí mô cơ yếu và cơ quan bị trượt khỏi vị trí ban đầu:

POP-Q là quy trình phân loại tình trạng sa cơ quan vùng chậu theo mức độ nghiêm trọng. Bác sĩ sẽ xác định phương pháp điều trị phù hợp dựa trên phân loại này.

Ảnh: Cơ quan sinh dục nữNguồn: Terese Winslow
Theo thống kê, khoảng 3-11% nữ giới bị sa cơ quan vùng chậu. Tỉ lệ này lên đến 37% đối với phụ nữ trong độ tuổi 69-79.
Sa cơ quan vùng chậu thường xảy ra đối với nữ. Tuy nhiên, nam giới cũng có nguy cơ bị sa bàng quang và trực tràng.
Tỉ lệ sa cơ quan vùng chậu tăng lên nếu:
Triệu chứng của mỗi người sẽ khác nhau tùy thuộc vào vị trí cơ quan vùng chậu bị sa. Dấu hiệu phổ biến nhất là nhận thấy âm đạo phình ra và cảm giác có vật gì đó rơi ra khỏi âm đạo.
Các triệu chứng khác bao gồm:
Ngoài ra, khi các cơ quan vùng chậu bị trượt xuống, chúng chèn ép lên bàng quang nên người bệnh tiểu không tự chủ. Họ có thể bị rò rỉ nước tiểu khi ho, cười hoặc tập thể dục.
Sa cơ quan vùng chậu thường không gây nguy hiểm đến tính mạng. Tuy nhiên, nếu không được điều trị, người bệnh sẽ gặp nhiều biến chứng và sinh hoạt hằng ngày khó khăn.
Một số biến chứng của sa cơ quan vùng chậu như:

Ảnh: Hệ tiết niệu nam và nữNguồn: U.S National Library of Medicine
Sinh thường qua ngã âm đạo là nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến sa cơ quan vùng chậu. Phụ nữ mang thai đôi, đa thai hoặc thai lớn đều làm tăng nguy cơ chấn thương cơ sàn chậu.
Bên cạnh đó, cơ sàn chậu sẽ lão hóa theo thời gian lão hóa và mất đi sức mạnh. Đặc biệt trong thời kì mãn kinh, cơ thể phụ nữ sản xuất ít estrogen hơn khiến các mô liên kết hỗ trợ vùng chậu yếu đi.
Ngoài ra, tăng áp lực đè lên khoang bụng trong thời gian dài do người bệnh bị táo bón mãn tính, ho mãn tính hoặc thường xuyên nâng vật nặng có thể là nguyên nhân dẫn đến sa cơ quan vùng chậu.
Những người bị rối loạn mô liên kết (mắc hội chứng Ehlers-Danlos) hoặc cử động khớp nhiều có thể làm collagen tăng sinh bất thường. Vì thế, mô liên kết sàn chậu cũng bị ảnh hưởng.
Một số nguyên nhân khác dẫn đến sa cơ quan vùng chậu như:
Thông thường, sa cơ quan vùng chậu có thể được chẩn đoán khi người phụ nữ đi khám phụ khoa định kì hoặc xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung. Ngoài ra, người bệnh có thể cần thực hiện thêm nhiều xét nghiệm khác để xác định cơ quan vùng chậu đã trượt khỏi vị trí chưa, mức độ nghiêm trọng cũng như loại trừ nguy cơ mắc các bệnh khác.
Xét nghiệm bổ sung bao gồm:

wp-content/uploads/2021/10/sieu-am-nga-am-dao-scaled.jpg” alt=”Siêu âm Ngã âm đạo”
Đầu tiên, bác sĩ áp dụng phương pháp điều trị không phẫu thuật cho người bị sa cơ quan vùng chậu. Nếu chúng không có hiệu quả, bệnh nhân sẽ được tiến hành phẫu thuật.


Nếu triệu chứng của người bệnh không cải thiện sau khi điều trị bảo tồn bằng những phương pháp trên và họ không có dự định sinh con, bác sĩ có thể tiến hành phẫu thuật. Vì sinh con sau phẫu thuật có thể làm tăng nguy cơ tái phát bệnh sa cơ quan tử cung.
Phẫu thuật cũng giúp điều trị triệu chứng tiểu không tự chủ. Ngoài ra, trong quá trình phẫu thuật, bác sĩ có thể đề xuất một số thủ thuật bổ sung như cắt bỏ tử cung để có thể tiếp cận và sửa chữa các cơ sàn chậu.
Có hai dạng phẫu thuật là phẫu thuật cắt bỏ và phẫu thuật tái tạo. Phẫu thuật cắt bỏ sẽ khâu thành âm đạo của người bệnh lại để ngăn các cơ quan trượt ra ngoài. Phẫu thuật tái tạo giúp sửa chữa, cải thiện những phần sàn chậu bị suy yếu.
Colpocleisis là thủ thuật cắt bỏ âm đạo để rút ngắn chiều dài âm đạo, qua đó ngăn chặn các cơ quan vùng chậu phình ra bên ngoài cơ thể. Colpocleisis phù hợp với người bệnh không còn nhu cầu quan hệ tình dục và sức khỏe không đảm bảo để thực hiện phẫu thuật tái tạo.
Phẫu thuật Colporrhaphy giúp điều trị chứng sa thành âm đạo trước hoặc sau, qua đó hỗ trợ bàng quang và trực tràng không bị sa xuống. Bác sĩ sẽ tiến hành phẫu thuật củng cố thành âm đạo của người bệnh bằng chỉ khâu tự tiêu.
Phương pháp phẫu thuật này giúp điều trị sa vòm âm đạo và sa ruột. Bác sĩ tiến hành nội soi ổ bụng, sau đó gắn lưới nâng lên thành âm đạo với xương cụt của người bệnh. Lưới nâng có chức năng đưa âm đạo bị sa nằm đúng vị trí ban đầu.
Phương pháp này giúp điều trị sa tử cung trong trường hợp người bệnh không muốn cắt bỏ tử cung. Bác sĩ sẽ gắn lưới vào cổ tử cung và âm đạo với xương cụt để nâng tử cung của bệnh nhân vào đúng vị trí.
Cố định dây chằng tử cung sử dụng hay còn gọi là sửa chữa mô tự nhiên vì phương pháp này sử dụng chính mô cơ của người bệnh để điều trị chứng sa tử cung hoặc sa vòm âm đạo. Thông qua âm đạo, bác sĩ sẽ gắn phần trên cùng của âm đạo (vòm âm đạo) vào dây chằng hoặc cơ trong xương chậu của bệnh nhân bằng chỉ khâu tự tiêu.
Sa cơ quan vùng chậu tuy không gây nguy hiểm đến tính mạnh nhưng bệnh ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy, mổi người nên duy trì những thói quen tốt để chủ động phòng ngừa và giảm thiểu nguy cơ bị bệnh.
Những thói quen lành mạnh bao gồm:
Sa cơ quan vùng chậu xảy ra phổ biến và ảnh hưởng đến nhiều phụ nữ, nhất là phụ nữ sau khi sinh nở hoặc trong giai đoạn mãn kinh. Nguyên nhân của sa cơ quan vùng chậu thường liên quan đến cơ chậu bị suy yếu do quá trình mang thai, sinh nở, tuổi tác, hoặc các hoạt động gây áp lực lên vùng chậu.
Để phòng ngừa sa cơ quan vùng chậu, mỗi người nên duy trì lối sống lành mạnh, tập luyện cơ sàn chậu thường xuyên và tránh những hoạt động gây áp lực lên vùng chậu. Phụ nữ nên chủ động chăm sóc sức khỏe vùng chậu để giảm thiểu nguy cơ bị sa cơ quan cũng như mang lại sự tự tin và thoải mái cho bản thân.
Link nội dung: https://superkids.edu.vn/sa-co-la-gi-a32148.html